Số hóa quan trắc hạn mặn giúp ĐBSCL chống chịu biến đổi khí hậu
Dự án GIZ giai đoạn 2019–2025 đã số hóa quan trắc hạn mặn, cung cấp dữ liệu thời gian thực, hỗ trợ quản lý tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu tại ĐBSCL.

Quan trắc môi trường ở trường ngập mặn Cà Mau từ dự án GIZ -Ảnh: T.L
Số hóa quan trắc hạn mặn ở ĐBSCL
Dự án “Thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long” (Mekong Climate Resilience Programme – MCRP) do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) thực hiện, với sự tài trợ của Chính phủ Đức và Thụy Sĩ, đã hoàn thành sau 6 năm triển khai (2019–2025). Dự án này hướng tới cải thiện công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu của các địa phương vùng ĐBSCL trước tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.
Bà Michaela Baur, Giám đốc Quốc gia GIZ tại Việt Nam, cho rằng: “Một trong những điểm nhấn nổi bật của Dự án GIZ là việc số hóa quy trình quan trắc nguồn nước, đặc biệt là theo dõi hạn mặn. Từ năm 2022, dự án đã hỗ trợ lắp đặt 21 trạm quan trắc nguồn nước tự động đạt tiêu chuẩn châu Âu tại các vị trí trọng yếu ở Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng. Các trạm quan trắc này giám sát liên tục bốn thông số quan trọng gồm mực nước, độ mặn, độ pH và nhiệt độ”.

Dự án GIZ giúp quản lý môi trường nước đô thị ĐBSCL - Ảnh: Văn Kim Khanh
Hệ thống được thiết kế theo hướng tự động hóa toàn bộ quy trình đo đạc, truyền và lưu trữ dữ liệu. Dữ liệu từ các trạm được truyền trực tiếp về cơ sở dữ liệu tập trung và tích hợp với các nền tảng số, cho phép cơ quan quản lý, nhà khoa học và người dân theo dõi diễn biến nguồn nước theo thời gian thực thông qua máy tính hoặc ứng dụng di động. So với phương thức quan trắc thủ công trước đây, mô hình này giúp giảm đáng kể độ trễ thông tin, nâng cao độ chính xác và tính liên tục của chuỗi dữ liệu.
Hiệu quả từ dữ liệu thời gian thực
Chuỗi dữ liệu quan trắc liên tục, có độ tin cậy cao mang lại giá trị lớn cho nghiên cứu khoa học và quản lý tài nguyên nước. Trên cơ sở dữ liệu do dự án cung cấp, các nhà khoa học có thể phân tích xu thế biến đổi hạn mặn theo không gian và thời gian, đánh giá mối quan hệ giữa dòng chảy, triều cường và hoạt động khai thác nước, từ đó xây dựng và hiệu chỉnh các mô hình dự báo với độ chính xác cao hơn.
Đối với công tác quản lý nhà nước, dữ liệu thời gian thực là cơ sở quan trọng giúp chính quyền địa phương nâng cao năng lực ra quyết định. Các biện pháp điều tiết nước, vận hành công trình thủy lợi, bố trí mùa vụ sản xuất nông nghiệp hay ứng phó khẩn cấp với hạn mặn được thực hiện dựa trên dữ liệu thực tế, thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm hay ước đoán. Điều này góp phần giảm thiểu rủi ro và thiệt hại do thiên tai gây ra.
Nhiều quyết định đầu tư và nghiên cứu khả thi về quản lý tài nguyên nước đô thị – nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu đã được xây dựng trên cơ sở dữ liệu và cơ chế liên kết vùng do dự án hỗ trợ. Các giải pháp công nghệ trong quan trắc hạn mặn góp phần bảo vệ hàng trăm nghìn ha đất canh tác, giúp người dân chủ động điều chỉnh sản xuất và sinh hoạt.
Ở cấp độ cộng đồng, việc tiếp cận dữ liệu quan trắc thông qua ứng dụng di động giúp người dân “biết trước” diễn biến nguồn nước, từ đó chuyển từ trạng thái ứng phó bị động sang thích ứng chủ động. Đồng thời, việc chia sẻ dữ liệu công khai góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhu cầu nhân rộng mô hình số hóa quan trắc hạn mặn
Dự án MCRP có tổng vốn viện trợ khoảng 19,6 triệu euro, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) làm cơ quan chủ quản. Các đơn vị thực thi gồm Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), Cục Đê điều và Phòng, chống thiên tai và Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng). Địa bàn triển khai trải rộng trên 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, trong đó các hoạt động trọng điểm về quan trắc hạn mặn được thí điểm tại Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng – những địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của hạn hán và xâm nhập mặn.
Trong giai đoạn 2022–2025 (Pha 2), dự án tập trung vào bốn nhóm nội dung chính: hoàn thiện khung thể chế và cơ chế liên kết vùng; cải thiện công tác quy hoạch và kế hoạch đầu tư quản lý nước đô thị – nông thôn; ứng dụng các giải pháp công nghệ mới trong phòng, chống sạt lở và xâm nhập mặn; và phát triển hạ tầng thoát nước, chống ngập đô thị theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trạm quan trắc nước mặn ở Sóc Trăng - Ảnh: T.L
Bên cạnh những kết quả đạt được, dự án vẫn còn một số hạn chế. Phạm vi lắp đặt trạm quan trắc tự động hiện mới tập trung tại một số địa phương ven biển, chưa bao phủ toàn bộ vùng ĐBSCL. Việc kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các ngành và địa phương vẫn cần được hoàn thiện hơn. Ngoài ra, năng lực vận hành, bảo trì hệ thống công nghệ cao ở cấp địa phương chưa đồng đều, đòi hỏi tiếp tục đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật trong thời gian tới.
Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai - Bộ NN&MT, cho rằng, sau năm 2025, các kết quả và mô hình thí điểm của Dự án GIZ được kỳ vọng sẽ tiếp tục được duy trì và nhân rộng. Việc mở rộng hệ thống quan trắc số hóa, tích hợp dữ liệu hạn mặn vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường chia sẻ dữ liệu liên vùng là những bước đi quan trọng tiếp theo. Đồng thời, kinh nghiệm từ Dự án sẽ là nền tảng để Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực cho các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu trong giai đoạn tiếp theo.














