Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035
Theo Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035”, doanh nghiệp được xác định là trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa; nhu cầu thị trường, thực tiễn phát triển là thước đo, định hướng nghiên cứu.

Các đại biểu tham quan Triển lãm Chuyển đổi số và Đô thị thông minh năm 2026. Ảnh: BTC.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035”. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký ban hành.
Đề án rà soát các chương trình quốc gia còn hiệu lực do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương phê duyệt theo thẩm quyền; đồng thời cập nhật các chương trình được phê duyệt mới. Việc tái cấu trúc nhằm khắc phục phân tán, dàn trải, chồng chéo; tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực.
6 nhóm chủ lực
Các chương trình thuộc phạm vi Đề án được tổ chức thành 6 nhóm: phát triển tiềm lực KHCN và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; chuyển đổi số quốc gia. Các nhóm tạo sự liên thông từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ đến ứng dụng, chuyển giao, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa.
Nhóm phát triển tiềm lực hỗ trợ nhân lực, tổ chức nghiên cứu và hạ tầng dùng chung. Nhóm nghiên cứu cơ bản tạo tri thức mới, luận cứ chính sách và nền tảng phát triển công nghệ. Nhóm trọng điểm quốc gia giải quyết các bài toán lớn, liên ngành, liên lĩnh vực về kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, con người, quốc phòng và an ninh.
Nhóm đổi mới sáng tạo quốc gia hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, phát triển thị trường KH&CN và khởi nghiệp sáng tạo. Nhóm quốc gia đặc biệt tập trung vào mục tiêu quy mô lớn, công nghệ và sản phẩm chiến lược, áp dụng cơ chế đặc thù theo pháp luật. Nhóm chuyển đổi số quốc gia thúc đẩy Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số theo chiến lược, chương trình quốc gia.
Việc tổ chức thành 6 nhóm không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; không thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt, quản lý và tổ chức thực hiện đã được pháp luật quy định.
Doanh nghiệp được xác định là trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa; nhu cầu thị trường, thực tiễn phát triển là thước đo, định hướng nghiên cứu. Viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò nòng cốt trong tạo lập tri thức, phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và đào tạo nhân lực. Đề án khuyến khích doanh nghiệp đề xuất, đặt hàng, tài trợ, đồng tài trợ, chủ trì hoặc phối hợp thực hiện nhiệm vụ.
Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn
Giai đoạn 2026-2030, mục tiêu là 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án được theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; tối thiểu 40% nhiệm vụ có kết quả được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế uy tín thuộc danh mục WoS/Scopus. Tối thiểu 50% nhiệm vụ đặt hàng do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp, với vốn đối ứng đạt tối thiểu 40% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này.
Đề án đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; tối thiểu 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, thành lập tối thiểu 250 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ.
Giai đoạn 2031-2035, tiếp tục duy trì việc theo dõi, đánh giá 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án trên nền tảng số; nâng tỷ lệ nhiệm vụ có kết quả được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế uy tín lên tối thiểu 50%. Tối thiểu 60% nhiệm vụ đặt hàng do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp, với vốn đối ứng đạt tối thiểu 50% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này.
Mục tiêu giai đoạn này là phát triển lũy kế ít nhất 50 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn quốc tế, bao gồm duy trì, nâng cấp các nhóm của giai đoạn trước; hoàn thiện và thương mại hóa quy mô công nghiệp lũy kế tối thiểu 50 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế. Phát triển tối thiểu 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó ít nhất 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; thành lập tối thiểu 500 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên cơ sở thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, phát triển sản phẩm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ.
Giai đoạn 2026-2030, hỗ trợ tối thiểu 150 sản phẩm, dịch vụ, giải pháp khởi nghiệp sáng tạo thử nghiệm, ứng dụng, nhân rộng và 150 doanh nghiệp hoàn thiện quy trình, phát triển sản phẩm mẫu đưa vào sản xuất; các mức tương ứng giai đoạn 2031–2035 là 300. Vốn đầu tư thu hút cho khởi nghiệp sáng tạo lần lượt đạt tối thiểu bằng 100% và 120% tổng kinh phí ngân sách nhà nước đã cấp thực hiện Chương trình quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong hai giai đoạn tương ứng.
Phương thức quản lý chuyển sang dựa trên mục tiêu, kết quả, hiệu quả và tác động thực tế; tăng tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, chấp nhận rủi ro có kiểm soát phù hợp đặc thù nghiên cứu. Các chương trình được đánh giá theo khung Đầu vào - Đầu ra - Hiệu quả - Tác động, kết hợp chỉ số chuyên ngành. Kết quả đánh giá là căn cứ điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phân bổ nguồn lực và xem xét tiếp tục, điều chỉnh, hợp nhất hoặc kết thúc chương trình theo thẩm quyền.
Bộ KHCN được giao làm đầu mối hướng dẫn, điều phối, theo dõi, kiểm tra, đánh giá và tổng hợp tình hình thực hiện Đề án; định kỳ hằng năm hoặc đột xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức đánh giá giữa kỳ năm 2030 và tổng kết năm 2035.
