Tăng tốc triển khai Nghị quyết 66.4 cho các dự án cấp bách

Trong bối cảnh khan hiếm vật liệu xây dựng và biến động giá cả trở thành 'nút thắt' lớn nhất đối với tiến độ giải ngân đầu tư công và triển khai các dự án hạ tầng quan trọng, Thanh Hóa đang khẩn trương triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 66.4), coi đây là 'chìa khóa' tháo gỡ khó khăn trong thực thi Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024; đồng thời tạo hành lang pháp lý linh hoạt hơn cho thị trường vật liệu xây dựng vận hành thông suốt, minh bạch.

Tuyến đường nối cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1A đi Cảng Nghi Sơn qua phường Tân Dân đang được đẩy nhanh tiến độ để kịp hoàn thành trong tháng 1/2026.

Tuyến đường nối cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1A đi Cảng Nghi Sơn qua phường Tân Dân đang được đẩy nhanh tiến độ để kịp hoàn thành trong tháng 1/2026.

Từ “mở khóa” cơ chế đến khơi thông nguồn cung

Thực hiện Nghị quyết 66.4, Thanh Hóa đã sớm ban hành kế hoạch triển khai đồng bộ, trong đó tập trung tháo gỡ khó khăn về thủ tục cấp phép, khoanh định mỏ và nâng công suất khai thác đối với các mỏ phục vụ trực tiếp cho các dự án đầu tư công và dự án phát triển kinh tế - xã hội cấp bách.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, với nhóm mỏ đất làm vật liệu san lấp, hiện UBND tỉnh đã phê duyệt 10 khu vực mỏ đưa vào diện không đấu giá quyền khai thác khoáng sản phục vụ các công trình đầu tư công theo cơ chế đặc thù của Nghị quyết 66.4. Đây được xem là bước đi quan trọng, tạo tiền đề pháp lý để rút ngắn thời gian tiếp cận nguồn vật liệu cho các chủ đầu tư.

Đến nay, một mỏ đất tại xã Yên Thọ đã được cấp phép cho Tổng Công ty Xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hóa - công ty cổ phần và đưa vào khai thác; hai mỏ tại xã Trường Lâm và xã Các Sơn đang hoàn tất hồ sơ để cấp phép trong tháng 1/2026. Song song với đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát các mỏ đất khác đủ điều kiện để trình UBND tỉnh đưa vào danh mục áp dụng cơ chế không đấu giá.

Ở hướng tăng nguồn cung ngắn hạn, việc xem xét nâng công suất khai thác tại một số mỏ hiện hữu cũng đang được triển khai thận trọng. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh chấp thuận nâng công suất khai thác từ 136.000m3 lên 450.000m3 tại mỏ đất san lấp xã Tượng Lĩnh theo đề nghị của Công ty TNHH Đầu tư phát triển xây dựng Lâm Minh; đồng thời đang triển khai xem xét việc nâng công suất song hành với các yêu cầu chặt chẽ về môi trường, an ninh trật tự, an toàn giao thông và trách nhiệm duy tu hạ tầng vận chuyển.

Với vật liệu cát xây dựng, lĩnh vực vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường và xã hội, sau khi rà soát đủ các điều kiện, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang trình UBND tỉnh phê duyệt 2 mỏ cát lòng sông tại các xã Hoằng Giang, Thiệu Quang theo đề nghị của Công ty CP Vĩnh An vào danh mục các khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 66.4; UBND tỉnh đã có văn bản và hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác mỏ cát tại xã Biện Thượng đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để xin ý kiến về khu vực mỏ cát theo quy định tại Khoản 3 Điều 30 Luật Di sản văn hóa năm 2024, làm cơ sở để xem xét đưa vào khu vực không đấu giá.

Không chỉ tập trung cho đầu tư công, tỉnh còn mở rộng áp dụng cơ chế đặc thù cho các dự án đầu tư trực tiếp. Cuối năm 2025, UBND tỉnh đã ban hành 2 quyết định phê duyệt danh mục 55 dự án vốn ngoài ngân sách được áp dụng Nghị quyết 66.4. Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã hướng dẫn các nhà đầu tư khẩn trương khảo sát, đề xuất mỏ phục vụ dự án. Đến nay, đã có 14 chủ đầu tư với 16 đề xuất mỏ được kiểm tra thực địa và đang hoàn tất các bước thẩm định.

Năm 2025, tổng kế hoạch vốn đầu tư công của tỉnh đạt gần 24.749 tỷ đồng; đến hết năm giải ngân đạt hơn 17.842 tỷ đồng, tương đương 72,1% kế hoạch. Đầu năm 2026 các chủ đầu tư và nhà thầu đang chạy đua thi công để “về đích” giải ngân, vì thế nhu cầu vật liệu xây dựng tiếp tục tăng mạnh. Cùng với đó, với hàng trăm dự án đầu tư trực tiếp đang triển khai, tiếp tục đặt ra yêu cầu lớn về nguồn cung nguyên vật liệu. Điển hình như tại Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp WHA Smart Technology 1 - Thanh Hóa, các nhà thầu đang huy động tối đa nhân lực, thiết bị, nhưng nguồn cung vật liệu vẫn là yếu tố quyết định tiến độ. Ông Lê Văn Quang, tư vấn giám sát hiện trường dự án, chia sẻ: “Chúng tôi kỳ vọng từ đầu năm mới, những khó khăn về nguyên vật liệu sẽ được tháo gỡ tích cực hơn để các nhà thầu có đủ nguồn lực đẩy nhanh thi công, sớm hoàn thành dự án để chủ đầu tư thu hút dự án thứ cấp".

Không chỉ tăng mỏ, mà phải tăng kỷ cương và tính thị trường

Nghị quyết 66.4 đã mở ra “đường băng chính sách” quan trọng, song để cơ chế này phát huy hiệu quả bền vững, Thanh Hóa đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tư duy “giải cứu tình thế” sang “thiết kế hệ sinh thái” mới cho thị trường vật liệu xây dựng.

Theo đại diện Sở Công Thương, năm 2026 nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ phát triển hạ tầng các cụm công nghiệp sẽ tăng mạnh. Chủ động trước áp lực này, sở đã rà soát và đề xuất 24 cụm công nghiệp được áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 66.4. Đối với các dự án đã được phê duyệt, Sở yêu cầu các chủ đầu tư, nhà thầu khẩn trương khảo sát, lựa chọn các khu vực có nguồn vật liệu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật để đánh giá khả năng khai thác mỏ trên cơ sở bảo đảm các tiêu chí về khoảng cách vận chuyển, hạ tầng giao thông, phương án giải phóng mặt bằng và không xâm phạm các khu vực cấm, khu vực liên quan đến quốc phòng - an ninh, văn hóa. Đây là căn cứ quan trọng để cơ quan chức năng thẩm định, xem xét cấp phép theo đúng quy định.

Theo Trưởng Phòng Quản lý công nghiệp, Sở Công Thương Lưu Thị Nga, giải pháp trọng tâm là phân loại nhu cầu để có cách tiếp cận phù hợp. Với dự án có khối lượng san lấp không lớn, ưu tiên phối hợp với các mỏ đang còn trữ lượng để nâng công suất theo Nghị quyết 66.4; với các dự án quy mô lớn, yêu cầu chủ đầu tư chủ động khảo sát, đề xuất mỏ mới trên cơ sở bảo đảm các tiêu chí về khoảng cách vận chuyển, hạ tầng giao thông, môi trường và quốc phòng - an ninh.

Ở góc độ doanh nghiệp, Chủ tịch Hiệp hội Đá Thanh Hóa Nguyễn Văn Thọ cho rằng Nghị quyết 66.4 có ý nghĩa như một “cú hích thể chế”, giúp tháo gỡ nhiều rào cản về thủ tục, song cộng đồng doanh nghiệp vẫn mong tỉnh tiếp tục cải thiện ở ba điểm then chốt: rút ngắn thời gian cấp phép; hỗ trợ giải phóng mặt bằng và hạ tầng vào mỏ; điều chỉnh bảng giá vật liệu công bố cho sát thực tế thị trường, giảm rủi ro cho nhà thầu thi công các dự án đầu tư công.

Cùng với những kiến nghị tháo gỡ về cơ chế, Hiệp hội Đá Thanh Hóa cũng nhấn mạnh vai trò tự giác của cộng đồng doanh nghiệp trong việc tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật: không khai thác ngoài ranh giới được cấp phép; thực hiện đúng việc niêm yết, bán hàng và kê khai, nộp thuế theo sản lượng, giá bán thực tế; bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong suốt quá trình khai thác, vận chuyển.

Thời gian tới, Hiệp hội Đá Thanh Hóa sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương để triển khai Nghị quyết 66.4 một cách thực chất, đồng hành cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn nhưng đồng thời kiên quyết bảo đảm hoạt động khai thác, cung ứng khoáng sản diễn ra đúng quy định, công khai và minh bạch.

Bài và ảnh: Tùng Lâm

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/tang-toc-trien-khai-nghi-quyet-66-4-cho-cac-du-an-cap-bach-275587.htm