Tạo lập sổ sức khỏe điện tử cho người dân - Bài 1: Nhận diện những vướng mắc

Việc lập Sổ sức khỏe điện tử cho người dân đang là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm đổi mới phương thức quản lý, chăm sóc sức khỏe theo hướng liên tục, toàn diện và dựa trên dữ liệu.

Đoàn viên, thanh niên phường Vị Tân và cán bộ Bảo hiểm xã hội cơ sở Vị Tân hướng dẫn người dân tích hợp sổ BHXH, thẻ BHYT và Sổ sức khỏe điện tử lên VNeID. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Đoàn viên, thanh niên phường Vị Tân và cán bộ Bảo hiểm xã hội cơ sở Vị Tân hướng dẫn người dân tích hợp sổ BHXH, thẻ BHYT và Sổ sức khỏe điện tử lên VNeID. Ảnh: Duy Khương/TTXVN

Tại thành phố Cần Thơ, dù công tác khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí đã đạt những kết quả tích cực, tuy nhiên tỷ lệ Sổ sức khỏe điện tử được khởi tạo trên ứng dụng VNeID vẫn còn thấp. Khoảng cách giữa số người đã được khám và số hồ sơ được lập cho thấy những hạn chế không chỉ thuộc về hạ tầng công nghệ, mà còn liên quan đến cơ chế tài chính, tổ chức thực hiện, chất lượng dữ liệu và sự phối hợp giữa các cơ quan.

Để làm rõ những nguyên nhân vướng mắc và giải pháp của thành phố trong vấn đề này, phóng viên TTXVN thực hiện chùm 2 bài về chủ đề "Tạo lập sổ sức khỏe điện tử cho người dân".

Bài 1: Nhận diện những vướng mắc

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, cùng các hướng dẫn của Bộ Y tế về tạo lập, cập nhật Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, thành phố Cần Thơ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, tổ chức rà soát đối tượng và phân công trách nhiệm cho các sở, ngành, địa phương. Kế hoạch số 465/KH-UBND ngày 30/9/2026 tiếp tục đặt ra yêu cầu đẩy nhanh việc khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí và lập Sổ sức khỏe điện tử cho người dân.

Khoảng cách giữa kết quả khám và dữ liệu số

Thông tin từ Sở Y tế thành phố Cần Thơ, tính đến thời điểm giữa tháng 10/2026, thành phố có 2.282.183/3.236.014 người dân đã được khám sức khỏe định kỳ, đạt tỷ lệ 70,52%. Tuy nhiên, số Sổ sức khỏe điện tử được khởi tạo, lập trên ứng dụng VNeID mới đạt 1.202.765, tương đương 37,16% dân số.

Hai kết quả này phản ánh hai khâu khác nhau trong quá trình chăm sóc sức khỏe toàn dân. Khám sức khỏe giúp phát hiện, đánh giá tình trạng sức khỏe tại một thời điểm; trong khi Sổ sức khỏe điện tử đòi hỏi thông tin phải được thu thập, chuẩn hóa, xác thực, cập nhật và kết nối để có thể sử dụng trong những lần khám tiếp theo. Vì vậy, số người đã đi khám không đồng nghĩa với số người đã có hồ sơ điện tử đầy đủ, được đồng bộ và hiển thị trên ứng dụng định danh điện tử. Đây là khoảng cách cần được nhìn nhận đúng để xác định giải pháp.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp - Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ chỉ rõ, hiện thành phố có 103 Trạm Y tế thực hiện khám sức khỏe cho trẻ em dưới 6 tuổi tại cộng đồng và kiểm tra sức khỏe học sinh đầu năm học. Dù các đơn vị cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyên môn trong hoạt động khám, nhân lực y tế và công nghệ thông tin tại một số nơi vẫn còn mỏng; máy tính, đường truyền internet, chữ ký số chưa đồng bộ hoặc đã xuống cấp. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ nhập liệu, khả năng xử lý hồ sơ và việc cập nhật kết quả khám lên hệ thống.

Trong điều kiện khối lượng dữ liệu cần xử lý lớn, một trạm y tế vừa phải thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên, vừa tham gia tổ chức khám, tổng hợp danh sách và cập nhật hồ sơ điện tử sẽ gặp khó khăn nếu không có nhân lực hỗ trợ phù hợp. Khi quy trình chưa được tổ chức hợp lý, việc nhập liệu có thể trở thành công việc dồn lại sau các đợt khám, làm tăng nguy cơ chậm trễ và sai sót.

Khó khăn còn xuất phát từ dữ liệu định danh của người dân. Theo đó, nhiều trường hợp đến khám không mang theo căn cước công dân gắn chíp hoặc chưa kích hoạt tài khoản định danh điện tử VNeID mức độ 2, gây trở ngại cho việc đối soát, xác thực thông tin. Đây không đơn thuần là vấn đề thao tác của người dân, mà còn cho thấy yêu cầu phải tổ chức hỗ trợ ngay tại điểm khám, giúp người dân hoàn thiện những điều kiện cần thiết để thông tin sức khỏe được gắn với đúng người.

Ở khâu kết nối, Cổng dữ liệu của Bộ Y tế có thời điểm quá tải, phát sinh lỗi; hạ tầng tích hợp giữa hệ thống dữ liệu y tế và ứng dụng VNeID của Bộ Công an tiếp tục được hoàn thiện. Khi các hệ thống chưa vận hành thông suốt, kết quả khám đã nhập tại cơ sở y tế có thể chưa hiển thị kịp thời trên ứng dụng. Điều này khiến người dân khó kiểm tra kết quả, còn cơ quan quản lý khó phân biệt trường hợp chưa được nhập dữ liệu với trường hợp dữ liệu đã gửi nhưng chưa đồng bộ thành công.

Do đó, đánh giá tiến độ phủ Sổ sức khỏe điện tử cần dựa trên nhiều chỉ số, không chỉ là số hồ sơ đã khởi tạo. Số hồ sơ được cập nhật, tỷ lệ dữ liệu xác thực thành công, tỷ lệ kết quả khám được đồng bộ và số trường hợp đã được xử lý lỗi cũng cần được theo dõi. Chỉ khi phân định rõ từng khâu, thành phố mới có thể xác định chính xác nguyên nhân khiến tỷ lệ hồ sơ điện tử thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ người dân đã khám sức khỏe.

Cơ chế tài chính, thủ tục và sự phối hợp chưa đồng bộ

Bên cạnh vấn đề kỹ thuật, cơ chế tài chính và phương thức tổ chức khám sức khỏe cũng tạo sức ép đối với các địa phương. Theo Kế hoạch số 465/KH-UBND, tổng kinh phí dự kiến thực hiện nhiệm vụ trong năm 2026 là 193 tỷ đồng; trước đó, thành phố đã cấp trước 153 tỷ đồng cho ngân sách xã, phường để triển khai khám sức khỏe cho người dân.

Tuy nhiên, khi phương thức triển khai và yêu cầu bố trí nguồn kinh phí có điều chỉnh, một số địa phương lúng túng trong việc xác định dự toán, ký kết hợp đồng với cơ sở khám chữa bệnh và thực hiện thủ tục thanh toán, quyết toán. Những vướng mắc này ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức khám, đồng thời tác động đến khả năng huy động nhân lực, bố trí thiết bị và tổ chức nhập liệu đồng bộ sau khám.

Trường hợp xã Hiệp Hưng là một minh chứng cho thấy áp lực nguồn lực ở địa bàn thuần nông. Dự toán ban đầu của địa phương cần hơn 1,81 tỷ đồng, trong khi số kinh phí được phân bổ là 643 triệu đồng, tạo ra khoảng thiếu hụt 1,17 tỷ đồng. Khả năng vận động nguồn lực xã hội hóa tại địa bàn còn hạn chế, khiến việc tổ chức khám theo kế hoạch gặp khó khăn. Đây là ví dụ cho thấy cùng một chỉ tiêu chung nhưng điều kiện thực hiện giữa các địa phương không giống nhau; phương án triển khai cần tính đến khả năng cân đối ngân sách và đặc điểm dân cư.

Tại phường Vĩnh Châu, dù địa phương đã lựa chọn phương án đặt hàng dịch vụ công với bệnh viện khu vực, tỷ lệ khám được nêu trong bản thảo mới đạt 82,56%. Những khó khăn liên quan đến biến động dân cư, đối chiếu dữ liệu cư trú, bảo hiểm y tế và kết quả khám cho thấy tổ chức khám thuận lợi chưa đồng nghĩa với việc hoàn thành toàn bộ quy trình quản lý hồ sơ.

Vướng mắc về thủ tục hợp đồng cũng được phản ánh tại phường Vị Thanh và xã Cờ Đỏ. Các địa phương gặp khó khăn khi Trạm Y tế không đủ tư cách pháp nhân để ký hợp đồng với bệnh viện tuyến trên, dẫn đến trở ngại trong thủ tục rút dự toán Kho bạc. Nếu không có hướng dẫn thống nhất về đơn vị đại diện ký kết, đặt hàng dịch vụ công và thanh toán, mỗi địa phương có thể lúng túng trong cách xử lý, làm chậm tiến độ chung.

Một vấn đề khác là cơ chế thanh toán khám sức khỏe định kỳ từ Quỹ Bảo hiểm y tế. Ông Hoàng Quốc Cường - Giám đốc Sở Y tế Cần Thơ cho biết, hiện Bộ Y tế đang dự thảo thông tư hướng dẫn thanh toán, chưa ban hành văn bản chính thức. Trong khi đó, người mắc bệnh mạn tính có thẻ bảo hiểm y tế thường đã duy trì lịch khám, điều trị theo hẹn. Nếu việc khám sàng lọc miễn phí chưa được giải thích rõ về mục đích, phạm vi và mối liên hệ với quá trình quản lý bệnh lâu dài, nhóm đối tượng này có thể chưa tích cực tham gia các đợt khám do địa phương tổ chức.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải phối hợp đồng thời giữa ngành y tế, cơ quan tài chính, chính quyền cơ sở và các cơ sở khám chữa bệnh. Cơ chế kinh phí cần rõ ràng, quy trình hợp đồng phải thống nhất, trách nhiệm cập nhật dữ liệu phải được xác định ngay từ đầu. Nếu các khâu này tách rời, địa phương có thể hoàn thành một phần nhiệm vụ nhưng vẫn không đạt mục tiêu cuối cùng là tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử có khả năng sử dụng.

Theo định hướng của thành phố, cuối năm 2026 phấn đấu toàn bộ người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất một lần trong năm và kết quả được cập nhật vào Sổ sức khỏe điện tử. Để tiến gần mục tiêu này, việc cần làm trước hết là nhận diện đúng từng nhóm vướng mắc, phân định trách nhiệm xử lý và tổ chức kiểm tra tiến độ theo từng khâu, từ lập danh sách, tổ chức khám đến nhập liệu, xác thực và đồng bộ.

Tỷ lệ 37,16% không chỉ là một con số về tiến độ chuyển đổi số. Đây còn là chỉ dấu cho thấy quá trình chuyển kết quả khám sức khỏe thành dữ liệu quản lý lâu dài đang gặp trở ngại ở nhiều tầng nấc. Khi các điểm nghẽn được xác định cụ thể, giải pháp mới có thể đi đúng trọng tâm, tránh tình trạng tăng số lượt khám nhưng dữ liệu sức khỏe của người dân vẫn chưa được cập nhật đầy đủ trên nền tảng số.

Bài cuối: Đồng bộ giải pháp “phủ sóng” Sổ sức khỏe điện tử

Ánh Tuyết/TTXVN

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/tao-lap-so-suc-khoe-dien-tu-cho-nguoi-dan-bai-1-nhan-dien-nhung-vuong-mac-post1395624.html