Tạo sinh kế, mở đường thoát nghèo bền vững ở Lạng Sơn
Không chỉ hỗ trợ cây, con giống, các mô hình sinh kế tại Lạng Sơn đang giúp người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi cách làm kinh tế, chủ động mở rộng sản xuất và tạo nguồn thu ổn định. Từ những hỗ trợ ban đầu, nhiều hộ đã mạnh dạn đầu tư thêm, từng bước gây dựng sinh kế lâu dài.

Tỉnh Lạng Sơn mở lối thoát nghèo bền vững từ những mô hình sinh kế
Từ nguồn vốn hỗ trợ đến sự chủ động làm ăn
Với nhiều hộ dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thiếu vốn, kỹ thuật sản xuất và thị trường tiêu thụ vẫn là những rào cản lớn trên hành trình cải thiện cuộc sống. Một khoản hỗ trợ ban đầu có thể giúp người dân bắt đầu sản xuất, nhưng để duy trì sinh kế, mở rộng thu nhập, điều quan trọng hơn là khả năng tổ chức sản xuất và tìm được đầu ra cho sản phẩm.
Tại xã Nhân Lý, tỉnh Lạng Sơn, những mô hình chăn nuôi dê và ngựa bạch sinh sản đang được triển khai theo hướng liên kết chuỗi giá trị, tạo điều kiện để hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện địa phương.
Năm 2026, từ nguồn vốn Tiểu dự án 2, Dự án 3 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã Nhân Lý triển khai mô hình nuôi dê tại các thôn Hợp Nhất, Bắc Phù, Lâm Sơn và Tồng Cút. Tổng kinh phí mô hình hơn 4,6 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 1,9 tỷ đồng, người dân đối ứng hơn 2,6 tỷ đồng.

Ông Lộc Văn Toàn - thôn Hợp Nhất, xã Nhân Lý, tỉnh Lạng Sơn đang chăm sóc đàn dê của gia đình
Gia đình ông Lộc Văn Toàn, thôn Hợp Nhất, là một trong những hộ cận nghèo tham gia mô hình, được hỗ trợ 17 con dê giống. Với điều kiện chăn nuôi không đòi hỏi chi phí quá lớn, phù hợp khí hậu, thổ nhưỡng địa phương, đàn dê trở thành nguồn vốn ban đầu để gia đình ông phát triển sản xuất, nhân đàn và từng bước cải thiện thu nhập.
Điều đáng chú ý là người dân không chỉ nhận con giống rồi tự xoay xở trong quá trình chăn nuôi. Các hộ còn được hỗ trợ thức ăn, hướng dẫn kỹ thuật, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học và phòng, chống dịch bệnh. Hợp tác xã tham gia mô hình cam kết thu mua dê khi vật nuôi đủ tuổi, đạt tiêu chuẩn xuất chuồng.
Cách tổ chức này giúp giảm bớt một trong những nỗi lo lớn nhất của người chăn nuôi: sản phẩm làm ra nhưng không biết bán cho ai, bán với giá nào. Khi đầu ra được tính đến ngay từ khâu triển khai, người dân có thêm cơ sở để quyết định đầu tư, thay vì chỉ trông chờ vào nguồn hỗ trợ ban đầu.
Cùng tại xã Nhân Lý, mô hình nuôi ngựa bạch sinh sản được triển khai với tổng kinh phí gần 4 tỷ đồng, ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 1,95 tỷ đồng. Có 17 hộ tham gia với 34 con ngựa, gồm 32 ngựa cái và 2 ngựa đực hậu bị sinh sản.
Theo ông Vương Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Nhân Lý, địa phương chú trọng lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thực tế của người dân. Việc kết hợp hỗ trợ con giống, kỹ thuật với liên kết tiêu thụ được kỳ vọng giúp các hộ duy trì sản xuất, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và cải thiện thu nhập.
Khi người dân có thể tự gây dựng sinh kế
Ở xã Bằng Mạc (Lạng Sơn), câu chuyện của gia đình bà Hoàng Thị Bình, thôn Cao Minh, cho thấy sự thay đổi có thể bắt đầu từ một mô hình sản xuất phù hợp. Trước đây, gia đình bà chủ yếu sống bằng trồng ngô, lúa. Sản xuất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, thiên tai, mưa lũ thường xuyên ảnh hưởng đến mùa màng, khiến nguồn thu thiếu ổn định.
Năm 2022, được vận động tham gia dự án chăn nuôi ngựa bạch, gia đình bà Bình mạnh dạn đăng ký. Sau hơn hai năm chăm sóc, đàn ngựa sinh trưởng, sinh sản tốt. Lứa ngựa đầu tiên được bán, mang về 30 triệu đồng. Từ nguồn thu đó, gia đình tiếp tục duy trì mô hình.

Mô hình nuôi ngựa bạch của gia đình bà bà Hoàng Thị Bình, thôn Cao Minh, xã Bằng Mạc
"Trước đây gia đình chỉ trông vào trồng ngô, lúa, nhưng thường xuyên mất mùa do thiên tai, lũ lụt. Từ khi tham gia dự án nuôi ngựa bạch, gia đình có thêm nguồn thu, góp phần trang trải chi tiêu và cải thiện đời sống", bà Bình chia sẻ.
Tại thôn Cao Minh, hiện có hơn 30 mô hình sản xuất phù hợp với lợi thế địa phương, trong đó có chăn nuôi trâu, bò, ngựa bạch. Theo thống kê của địa phương, các hộ tham gia dự án có thu nhập tăng thêm bình quân 50-70 triệu đồng mỗi năm.
Một trường hợp khác cho thấy rõ hơn sự chuyển biến từ tiếp nhận hỗ trợ sang chủ động phát triển sản xuất là chị Lương Thị Khuyên, ở xã Xuân Dương (Lạng Sơn). Cuối năm 2025, gia đình chị được hỗ trợ 600 con vịt cổ xanh để phát triển chăn nuôi. Sau lứa nuôi đầu tiên, nhận thấy đàn vịt sinh trưởng tốt, có thương lái đến thu mua, chị Khuyên quyết định tự bỏ vốn mua thêm 1.300 con giống vào đầu năm 2026.

Gia đình chị Lương Thị Khuyên được hỗ trợ 600 con vịt cổ xanh từ nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia
Từ quy mô được hỗ trợ ban đầu, người phụ nữ này đã mạnh dạn mở rộng đàn vật nuôi bằng chính nguồn lực của gia đình. Quyết định đầu tư thêm cho thấy hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở số lượng con giống được trao, mà còn ở khả năng khơi dậy sự chủ động, tạo niềm tin để người dân tiếp tục đầu tư sản xuất.
Đối với các hộ gia đình ở vùng khó khăn, việc có thêm một hướng sinh kế phù hợp, tìm được người mua sản phẩm và có khả năng tái đầu tư là những yếu tố quan trọng để duy trì nguồn thu. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế của mô hình, cần tính đến cả chi phí thức ăn, công chăm sóc, dịch bệnh và lợi nhuận thực tế sau mỗi lứa nuôi.
Để sinh kế không dừng lại ở một khoản hỗ trợ
Không chỉ ở Nhân Lý, Bằng Mạc hay Xuân Dương, Lạng Sơn đang triển khai nhiều mô hình phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tại xã Khánh Khê, tỉnh Lạng Sơn, Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Tràng Các, với 6 thành viên chủ yếu là hộ cận nghèo, đã được hỗ trợ mô hình chăn nuôi gà dưới tán hồi. Năm 2025, từ nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Hợp tác xã được hỗ trợ hơn 2.000 con gà giống, thức ăn chăn nuôi và tập huấn kỹ thuật.

Giám đốc Hợp tác xã Thương mại và Dịch vụ Tràng Các, xã Khánh Khê chăm sóc gà được hỗ trợ từ dự án đa dạng hoá sinh kế, phát triển mô hình giảm nghèo. Nguồn ảnh: Lạng Sơn
Sau quá trình tổ chức chăm sóc, áp dụng kiến thức được hướng dẫn, HTX đã xuất bán hơn 2.000 con gà, thu được 500 triệu đồng. Kết quả bước đầu tạo điều kiện để các thành viên tiếp tục duy trì sản xuất, tích lũy kinh nghiệm và từng bước mở rộng quy mô phù hợp với khả năng của mình.
Giai đoạn 2021-2025, Lạng Sơn thực hiện 309 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế với 8.892 hộ tham gia. Cùng với các chính sách giảm nghèo khác, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm bình quân khoảng 3% mỗi năm.
Ông Hoàng Xuân Thuận, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lạng Sơn, đánh giá các dự án góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đáng chú ý, nhiều người dân đã thay đổi cách nghĩ, cách làm, mạnh dạn áp dụng kỹ thuật mới và lựa chọn mô hình phù hợp.
Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các xã rà soát nhu cầu, lựa chọn mô hình sát điều kiện thực tế, bảo đảm hỗ trợ đúng đối tượng.
Từ những mô hình chăn nuôi, sản xuất ở vùng khó khăn, có thể thấy giảm nghèo bền vững không chỉ nằm ở số lượng con giống hay mức kinh phí được trao. Giá trị lâu dài của chính sách còn ở việc người dân có thể tự duy trì sản xuất, tạo ra thu nhập, tích lũy vốn và từng bước giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ.
Khi sinh kế được xây dựng trên nền tảng phù hợp với điều kiện địa phương, có kỹ thuật đồng hành và thị trường tiêu thụ, mỗi khoản đầu tư ban đầu mới có cơ hội trở thành động lực để các hộ gia đình vươn lên, cải thiện cuộc sống bằng chính sức lao động và khả năng làm chủ kinh tế của mình.

