Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr, 'quái thú mặt biển' lớn nhất thế giới của Liên Xô

Được phát triển để đưa lực lượng đổ bộ vượt qua mọi bãi biển phòng thủ, tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr của Liên Xô là phương tiện hải quân có kích thước và tải trọng lớn nhất từng được chế tạo theo công nghệ đệm khí.

Trong giai đoạn cao trào của Chiến tranh Lạnh, Liên Xô phải đối mặt với yêu cầu triển khai lực lượng đổ bộ nhanh, bất ngờ và linh hoạt trước các tuyến phòng thủ ven biển ngày càng dày đặc.

Trong giai đoạn cao trào của Chiến tranh Lạnh, Liên Xô phải đối mặt với yêu cầu triển khai lực lượng đổ bộ nhanh, bất ngờ và linh hoạt trước các tuyến phòng thủ ven biển ngày càng dày đặc.

Các bãi mìn, vật cản chống đổ bộ và hỏa lực bờ biển khiến tàu đổ bộ truyền thống gặp nhiều rủi ro.

Các bãi mìn, vật cản chống đổ bộ và hỏa lực bờ biển khiến tàu đổ bộ truyền thống gặp nhiều rủi ro.

Từ nhu cầu đó, khái niệm tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn được đặt ra, với yêu cầu phương tiện di chuyển tốt cả trên mặt nước lẫn mặt đất, vượt qua bãi cạn, bãi lầy và chướng ngại vật mà không cần cầu cảng.

Từ nhu cầu đó, khái niệm tàu đổ bộ đệm khí cỡ lớn được đặt ra, với yêu cầu phương tiện di chuyển tốt cả trên mặt nước lẫn mặt đất, vượt qua bãi cạn, bãi lầy và chướng ngại vật mà không cần cầu cảng.

Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr, còn được biết đến với tên Project 12322, là kết quả tham vọng đó. Đây là loại tàu đệm khí quân sự lớn nhất thế giới từng được đưa vào trang bị.

Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr, còn được biết đến với tên Project 12322, là kết quả tham vọng đó. Đây là loại tàu đệm khí quân sự lớn nhất thế giới từng được đưa vào trang bị.

Thân tàu có chiều dài 57 m, chiều rộng hơn 25 m và chiều cao tổng thể gần 21 m.

Thân tàu có chiều dài 57 m, chiều rộng hơn 25 m và chiều cao tổng thể gần 21 m.

Trọng lượng không tải của tàu lên tới hơn 300.000 kg, trong khi tải trọng tối đa có thể vượt quá 500.000 kg khi chở đầy nhiên liệu, khí tài và binh sĩ.

Trọng lượng không tải của tàu lên tới hơn 300.000 kg, trong khi tải trọng tối đa có thể vượt quá 500.000 kg khi chở đầy nhiên liệu, khí tài và binh sĩ.

Zubr được thiết kế để chở lực lượng đổ bộ quy mô lớn trong một chuyến. Khoang chở hàng có thể mang theo 3 xe tăng chiến đấu chủ lực nặng tới 150.000 kg, hoặc 10 xe bọc thép chở quân, hoặc kết hợp 8 xe bọc thép cùng khoảng 140 binh sĩ trang bị đầy đủ.

Zubr được thiết kế để chở lực lượng đổ bộ quy mô lớn trong một chuyến. Khoang chở hàng có thể mang theo 3 xe tăng chiến đấu chủ lực nặng tới 150.000 kg, hoặc 10 xe bọc thép chở quân, hoặc kết hợp 8 xe bọc thép cùng khoảng 140 binh sĩ trang bị đầy đủ.

Nhờ lớp đệm khí, tàu có thể tiếp cận trực tiếp bờ biển mà không phụ thuộc vào độ sâu nước hay địa hình ven bờ.

Nhờ lớp đệm khí, tàu có thể tiếp cận trực tiếp bờ biển mà không phụ thuộc vào độ sâu nước hay địa hình ven bờ.

Hệ thống động lực của tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr gồm 5 động cơ tuabin khí, trong đó 2 động cơ dùng để tạo đệm khí nâng thân tàu và 3 động cơ cung cấp lực đẩy.

Hệ thống động lực của tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr gồm 5 động cơ tuabin khí, trong đó 2 động cơ dùng để tạo đệm khí nâng thân tàu và 3 động cơ cung cấp lực đẩy.

Tổng công suất hệ thống đạt hàng chục nghìn kW, cho phép tàu đạt tốc độ tối đa khoảng 110 km/h trên mặt nước phẳng.

Tổng công suất hệ thống đạt hàng chục nghìn kW, cho phép tàu đạt tốc độ tối đa khoảng 110 km/h trên mặt nước phẳng.

Đây là con số rất cao đối với một phương tiện đổ bộ cỡ lớn, giúp rút ngắn đáng kể thời gian tiếp cận mục tiêu và giảm nguy cơ bị phát hiện sớm.

Đây là con số rất cao đối với một phương tiện đổ bộ cỡ lớn, giúp rút ngắn đáng kể thời gian tiếp cận mục tiêu và giảm nguy cơ bị phát hiện sớm.

Về vũ khí, Zubr không chỉ là phương tiện vận tải thuần túy mà còn được trang bị khả năng tự vệ đáng kể.

Về vũ khí, Zubr không chỉ là phương tiện vận tải thuần túy mà còn được trang bị khả năng tự vệ đáng kể.

Trên tàu lắp 2 pháo phòng không tự động cỡ nòng 30 mm loại AK-630, mỗi khẩu có tốc độ bắn lên tới hàng nghìn phát/phút, dùng để đối phó máy bay bay thấp, trực thăng và mục tiêu mặt nước nhỏ.

Trên tàu lắp 2 pháo phòng không tự động cỡ nòng 30 mm loại AK-630, mỗi khẩu có tốc độ bắn lên tới hàng nghìn phát/phút, dùng để đối phó máy bay bay thấp, trực thăng và mục tiêu mặt nước nhỏ.

Ngoài ra, tàu còn được trang bị 2 bệ phóng rocket cỡ 140 mm để yểm trợ hỏa lực trực tiếp cho lực lượng đổ bộ khi tiếp cận bờ.

Ngoài ra, tàu còn được trang bị 2 bệ phóng rocket cỡ 140 mm để yểm trợ hỏa lực trực tiếp cho lực lượng đổ bộ khi tiếp cận bờ.

Hệ thống cảm biến của tàu bao gồm radar dẫn đường, radar trinh sát mặt biển và các thiết bị thông tin chỉ huy, cho phép Zubr hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp và phối hợp với các đơn vị hải quân khác.

Hệ thống cảm biến của tàu bao gồm radar dẫn đường, radar trinh sát mặt biển và các thiết bị thông tin chỉ huy, cho phép Zubr hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp và phối hợp với các đơn vị hải quân khác.

Tuy nhiên, kích thước lớn và tiếng ồn đặc trưng của động cơ tuabin cũng khiến tàu dễ bị phát hiện hơn so với các phương tiện nhỏ.

Tuy nhiên, kích thước lớn và tiếng ồn đặc trưng của động cơ tuabin cũng khiến tàu dễ bị phát hiện hơn so với các phương tiện nhỏ.

Trong thực tế, tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr được đánh giá cao về khả năng răn đe và tác động tâm lý. Việc một phương tiện khổng lồ lao lên bãi biển với tốc độ cao, mang theo xe tăng và bộ binh, có thể gây choáng ngợp đối với lực lượng phòng thủ.

Trong thực tế, tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr được đánh giá cao về khả năng răn đe và tác động tâm lý. Việc một phương tiện khổng lồ lao lên bãi biển với tốc độ cao, mang theo xe tăng và bộ binh, có thể gây choáng ngợp đối với lực lượng phòng thủ.

Tuy nhiên, chi phí vận hành cao, yêu cầu bảo dưỡng phức tạp và mức tiêu thụ nhiên liệu lớn cũng là những hạn chế rõ rệt.

Tuy nhiên, chi phí vận hành cao, yêu cầu bảo dưỡng phức tạp và mức tiêu thụ nhiên liệu lớn cũng là những hạn chế rõ rệt.

Sau khi Liên Xô tan rã, số lượng tàu Zubr được chế tạo không nhiều và chỉ một số quốc gia tiếp tục vận hành hoặc mua lại.

Sau khi Liên Xô tan rã, số lượng tàu Zubr được chế tạo không nhiều và chỉ một số quốc gia tiếp tục vận hành hoặc mua lại.

Dù vậy, lớp tàu này vẫn giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử hải quân, như minh chứng cho tham vọng và khả năng kỹ thuật của ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô.

Dù vậy, lớp tàu này vẫn giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử hải quân, như minh chứng cho tham vọng và khả năng kỹ thuật của ngành công nghiệp quốc phòng Liên Xô.

Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr cho thấy một hướng tiếp cận khác biệt trong chiến tranh đổ bộ, ưu tiên tốc độ, tải trọng và khả năng vượt địa hình hơn là sự kín đáo.

Tàu đổ bộ đệm khí lớp Zubr cho thấy một hướng tiếp cận khác biệt trong chiến tranh đổ bộ, ưu tiên tốc độ, tải trọng và khả năng vượt địa hình hơn là sự kín đáo.

Dù không trở thành xu hướng phổ biến trên toàn cầu, Zubr vẫn được xem là biểu tượng độc đáo của một thời kỳ cạnh tranh quân sự quyết liệt trên biển.

Dù không trở thành xu hướng phổ biến trên toàn cầu, Zubr vẫn được xem là biểu tượng độc đáo của một thời kỳ cạnh tranh quân sự quyết liệt trên biển.

Việt Hùng

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/tau-do-bo-dem-khi-lop-zubr-quai-thu-mat-bien-lon-nhat-the-gioi-cua-lien-xo-post636316.antd