Thành phố Hồ Chí Minh phát triển nguồn nhân lực pháp lý cho đô thị đặc biệt
Để đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, Thành phố Hồ Chí Minh phải tiếp tục đổi mới công tác xây dựng thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

(Ảnh minh họa. Phạm Mai/Vietnam+)
Một hệ sinh thái pháp luật cho đô thị đặc biệt chỉ thực sự hiệu quả khi các thiết chế thực thi hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao.
Cùng với đó là chính sách phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao, có năng lực tham gia hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Hệ sinh thái pháp luật cho đô thị đặc biệt
Thành phố Hồ Chí Minh đang gấp rút xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để triển khai thi hành, cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 tới đây. Theo Sở Tư pháp, Thành phố cần chuẩn bị 168 văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm các nghị quyết của Hội đồng Nhân dân, quyết định của Ủy ban Nhân dân và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố. Trong đó có 85 văn bản cần ban hành ngay.
Để đảm bảo kỷ luật, kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết với chất lượng pháp lý cao nhất, đòi hỏi Thành phố phải tiếp tục đổi mới công tác xây dựng thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đối với cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật.
Một trong những điểm nổi bật nhất của Luật Phát triển đô thị là quy định cơ chế phân cấp, phân quyền triệt để, trong đó cho phép Thành phố Hồ Chí Minh được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ; quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố (trừ nội dung thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật).
Theo các chuyên gia, vấn đề đặt ra là làm thế nào giải quyết được bài toán giữa việc cho phép Thành phố Hồ Chí Minh được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp trên, hoặc thí điểm cơ chế, chính sách mới, với việc yêu cầu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cơ chế bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người thực thi chính sách mới, thí điểm.
Tiến sỹ, Luật sư Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cho rằng để đáp ứng yêu cầu rất cao này, đi cùng với Luật Phát triển đô thị cần phải xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò nền tảng của toàn bộ hệ sinh thái pháp luật, hướng đến bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và khả thi. Đồng thời có khả năng thích ứng với các biến đổi nhanh của môi trường phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như, kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo.
Theo Luật sư Phan Trung Hoài, muốn đạt được yêu cầu trên, yếu tố quyết định là việc chuyển hóa các quy định pháp luật trong thực tiễn, xây dựng các thiết chế gồm hệ thống cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp, các tổ chức hỗ trợ pháp lý và các cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực trong quản trị, vận hành, kiểm tra, giám sát đối với đô thị đặc biệt. Một hệ sinh thái pháp luật cho đô thị đặc biệt chỉ thực sự hiệu quả khi các thiết chế thực thi hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao.
Cùng với đó có chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao, là yếu tố bảo đảm cho việc thiết kế, vận hành và phát triển hệ sinh thái pháp luật trong đô thị đặc biệt. “Đội ngũ này bao gồm Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ thực thi pháp luật, thẩm phán, luật sư, chuyên gia pháp lý và các nhà nghiên cứu," Tiến sỹ Phan Trung Hoài chỉ rõ.

(Ảnh minh họa. Vietnam+)
Phát triển đội ngũ chuyên gia pháp lý chất lượng cao
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh mới, nguồn nhân lực pháp lý không chỉ cần có kiến thức chuyên môn sâu mà còn phải có tư duy liên ngành, năng lực số và khả năng thích ứng môi trường pháp lý toàn cầu. Do vậy, cần chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia pháp lý chất lượng cao, có năng lực tham gia hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Đặc biệt trong các lĩnh vực mới như, kinh tế số, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập cũng như tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, chính sách đãi ngộ và trọng dụng nhân tài pháp luật, xây dựng môi trường làm việc liêm chính, chuyên nghiệp, khuyến khích sáng tạo và cống hiến; nâng cao đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ.
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết đổi mới công tác xây dựng thể chế, Thành phố huy động sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, luật sư có kinh nghiệm tham gia xây dựng pháp luật. Đồng thời tăng cường vai trò của các tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân trên địa bàn thành phố tham gia vào công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế và các chương trình phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh đang phối hợp Bộ Tư pháp tổ chức triển khai trên địa bàn, thực hiện lựa chọn nhân sự để đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn trở thành luật sư công.
Theo Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới có điểm nhấn quan trọng: lần đầu khẳng định chủ trương huy động, thu hút tổ chức, cá nhân ngoài khu vực nhà nước tham gia vào cả khâu xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Đây là cơ sở chính trị-pháp lý để đội ngũ luật sư, với tư cách lực lượng bổ trợ tư pháp và chuyên gia pháp lý độc lập, tham gia một cách thực chất chứ không dừng ở vai trò góp ý hình thức.
Luật sư Bùi Quang Nghiêm, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trên tinh thần của Nghị quyết số 66, đội ngũ luật sư có thể tham gia xây dựng và phản biện chính sách, pháp luật; góp phần khắc phục tình trạng “hình sự hóa” quan hệ dân sự, kinh tế; hỗ trợ pháp lý cho người dân, doanh nghiệp và bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Đội ngũ luật sư cũng tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế trong tiến trình hội nhập; trợ giúp pháp lý, phổ biến pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; đồng thời góp phần xây dựng hành lang pháp lý cho các vấn đề mới và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, Luật sư Bùi Quang Nghiêm nhìn nhận, cơ chế để luật sư tham gia xây dựng pháp luật còn nặng tính hình thức; việc lấy ý kiến nhiều khi mang tính thủ tục, thiếu ràng buộc về trách nhiệm tiếp thu, giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Đáng chú ý nhất là năng lực đội ngũ chưa đồng đều; còn thiếu luật sư chuyên sâu về thương mại quốc tế, trọng tài quốc tế và các lĩnh vực mới (công nghệ, dữ liệu, tài chính); cùng với đó là rào cản ngoại ngữ hạn chế khả năng tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế.
Nhận thức về vị trí bổ trợ tư pháp của luật sư ở một số nơi chưa đầy đủ; một số quyền của luật sư trong tố tụng chưa được bảo đảm trọn vẹn trên thực tế. Một bộ phận luật sư còn hạn chế về đạo đức và kỷ luật nghề nghiệp - yếu tố quyết định để đội ngũ được tin cậy giao tham gia các nhiệm vụ nêu trên.
Nhấn mạnh Nghị quyết số 66-NQ/TW mở ra cơ hội để đội ngũ luật sư tham gia thực chất và sâu rộng vào công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Luật sư Bùi Quang Nghiêm cho rằng việc phát huy vai trò này đòi hỏi đồng thời sự hoàn thiện cơ chế từ phía Nhà nước, sự chủ động tổ chức của Liên đoàn và các Đoàn Luật sư, cùng nỗ lực nâng cao năng lực và giữ gìn đạo đức của mỗi luật sư.
Theo Luật sư Bùi Quang Nghiêm, Nhà nước cần thể chế hóa và vận hành cơ chế đặt hàng, thuê khoán luật sư, tổ chức hành nghề để tham gia nghiên cứu, đánh giá tác động, rà soát dự thảo luật; bảo đảm công khai, minh bạch việc tiếp thu, giải trình ý kiến phản biện; bảo đảm đầy đủ các quyền của luật sư trong hoạt động tố tụng.
Đối với Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư, cần tổ chức các nhóm chuyên gia theo lĩnh vực làm đầu mối tiếp nhận và thực hiện các nhiệm vụ được đặt hàng; đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu, ngoại ngữ, kỹ năng tranh tụng quốc tế và ứng dụng công nghệ; gắn kết hoạt động của luật sư với chương trình xây dựng pháp luật hằng năm./.
