Thị trường vật liệu xây dựng đầu năm 2026: áp lực chi phí đẩy giá nhích lên

Bước sang những tháng đầu năm 2026, thị trường vật liệu xây dựng ghi nhận nhiều tín hiệu phục hồi cùng với nhịp giải ngân đầu tư công và nhu cầu xây dựng dân dụng gia tăng. Tuy nhiên, đằng sau sự sôi động đó là áp lực chi phí đầu vào ngày càng lớn, khiến giá nhiều loại vật liệu liên tục được điều chỉnh tăng, đặt ra bài toán kiểm soát chi phí cho doanh nghiệp và nhà thầu.

Về dài hạn, thị trường vật liệu xây dựng năm 2026 được kỳ vọng sẽ duy trì mặt bằng ổn định hơn, song đi kèm yêu cầu ngày càng cao về minh bạch giá, kiểm soát nguồn cung và tối ưu chi phí.

Về dài hạn, thị trường vật liệu xây dựng năm 2026 được kỳ vọng sẽ duy trì mặt bằng ổn định hơn, song đi kèm yêu cầu ngày càng cao về minh bạch giá, kiểm soát nguồn cung và tối ưu chi phí.

Giá vật liệu tăng nhẹ

Một trong những diễn biến đáng chú ý nhất của thị trường vật liệu xây dựng đầu năm 2026 là việc giá thép xây dựng tiếp tục được điều chỉnh tăng, đánh dấu lần tăng thứ hai liên tiếp chỉ trong thời gian ngắn. Theo thông báo từ các doanh nghiệp sản xuất thép, nguyên nhân chủ yếu đến từ biến động thị trường và chi phí nguyên liệu đầu vào duy trì ở mức cao.

Tại miền Bắc, nhiều thương hiệu thép lớn đồng loạt điều chỉnh giá. Thép Hòa Phát tăng 210 đồng/kg đối với cả hai dòng sản phẩm chủ lực, đưa giá thép cuộn CB240 lên mức 14.010 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 lên cùng mức 14.010 đồng/kg. Thép Việt Ý ghi nhận mức tăng mạnh hơn, trong đó thép cuộn CB240 tăng 300 đồng, lên 13.940 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 tăng tới 460 đồng, đạt 13.840 đồng/kg.

Một số thương hiệu khác cũng neo giá ở mặt bằng cao. Thép Việt Đức hiện có giá thép cuộn CB240 ở mức 14.050 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 đạt 13.850 đồng/kg. Thép Việt Sing ghi nhận giá thép cuộn CB240 ở mức 14.040 đồng/kg, trong khi thép thanh vằn D10 CB300 đạt 13.840 đồng/kg. Ở phân khúc thấp hơn, thép VAS có giá thép cuộn CB240 khoảng 13.740 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.330 đồng/kg.

Diễn biến tương tự cũng được ghi nhận tại miền Trung, nơi giá thép đang tiệm cận, thậm chí cao hơn một số khu vực phía Bắc. Thép Hòa Phát hiện niêm yết giá thép cuộn CB240 ở mức 13.800 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 đạt 13.600 đồng/kg. Đáng chú ý, thép Việt Đức tại khu vực này có mức giá cao hơn, với thép cuộn CB240 lên tới 14.250 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 14.050 đồng/kg. Thép VAS tại miền Trung có giá mềm hơn, với thép cuộn CB240 ở mức 13.640 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 khoảng 13.130 đồng/kg.

Trong khi đó, tại miền Nam, mặt bằng giá thép cũng duy trì xu hướng tăng. Thép Hòa Phát niêm yết thép cuộn CB240 ở mức 14.010 đồng/kg, thép thanh vằn D10 CB300 khoảng 13.800 đồng/kg. Thép VAS tại khu vực này có giá thép cuộn CB240 13.740 đồng/kg và thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 13.430 đồng/kg.

Theo các đại lý phân phối, dù mức tăng chưa quá lớn, song việc giá thép điều chỉnh tăng liên tiếp trong thời gian ngắn cho thấy áp lực chi phí đầu vào vẫn đang hiện hữu, đặc biệt là giá quặng sắt, than luyện cốc và chi phí năng lượng.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp xi măng như VICEM Hà Tiên, SCG Việt Nam, INSEE Việt Nam, Fico YTL và VICEM Hạ Long cùng đồng loạt thông báo tăng giá bán trong tháng 1 năm 2026, mức tăng phổ biến khoảng 100.000 đồng/tấn. Theo các doanh nghiệp xi măng, nguyên nhân tăng giá xi măng chủ yếu do chi phí năng lượng và nguyên liệu duy trì ở mức cao, việc cân đối giá bán là cần thiết để bảo đảm hoạt động sản xuất ổn định.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

Tại cuộc họp xây dựng dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về quản lý vật liệu xây dựng được tổ chức mới đây, Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) Lê Trung Thành cho biết, vật liệu xây dựng là yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, đô thị, nhà ở và các công trình phục vụ quốc phòng, an ninh.

Việc bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý, đồng thời phát triển vật liệu xây dựng theo hướng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 đã bổ sung, hoàn thiện nhiều quy định liên quan đến quản lý vật liệu, cấu kiện sử dụng cho công trình xây dựng. Đồng thời, quy định rõ các chính sách khuyến khích nghiên cứu, đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu xây dựng mới, vật liệu tái chế, vật liệu xanh, vật liệu nhẹ, vật liệu thông minh, vật liệu thân thiện môi trường và vật liệu phù hợp với điều kiện vùng ven biển, hải đảo.

Nghị định số 09/2021/NĐ-CP đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về vật liệu xây dựng trong thời gian qua. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số vướng mắc, bất cập liên quan đến phân loại và danh mục vật liệu xây dựng; cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong theo dõi, dự báo cung, cầu và điều phối khi xảy ra thiếu hụt vật liệu xây dựng thông thường, vật liệu san lấp; yêu cầu lồng ghép bảo vệ môi trường, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu, cũng như định hướng phát triển vật liệu xây dựng xanh, tuần hoàn, phát thải thấp. Ngoài ra, một số quy định tại Nghị định số 09/2021/NĐ-CP đã được bãi bỏ theo Nghị định số 144/2025/NĐ-CP.

Do đó, từ yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý và thực tiễn triển khai, dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Xây dựng về quản lý, phát triển và sử dụng vật liệu xây dựng; thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng bền vững, hiện đại, tiết kiệm tài nguyên, gắn với bảo vệ môi trường và chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, liên vùng trong dự báo và điều phối cung, cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trọng điểm quốc gia; đồng thời thúc đẩy việc sử dụng tro, xỉ, thạch cao và phát triển vật liệu xây dựng không nung theo cơ chế thị trường, bảo đảm an toàn và hiệu quả.

Các chuyên gia trong ngành nhìn nhận, đối với doanh nghiệp sản xuất VLXD, đặc biệt là ngành xi măng và vật liệu cơ bản, Nghị định mới sẽ tạo mặt bằng pháp lý rõ ràng hơn cho việc đầu tư công nghệ, tối ưu chi phí năng lượng, kiểm soát phát thải và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Trong bối cảnh ngành vật liệu xây dựng đang chịu sức ép lớn từ chi phí đầu vào, yêu cầu môi trường và tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng cao, dự thảo Nghị định được kỳ vọng sẽ đóng vai trò khung chính sách nền tảng, giúp thị trường vận hành ổn định hơn, hướng tới tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn.

Nghị định gồm 4 Chương, 20 Điều và 3 Phụ lục, kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 09/2021/NĐ-CP và bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến chiến lược và kế hoạch phát triển vật liệu xây dựng; đầu tư, sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; quản lý chế biến, sử dụng khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng; quản lý chất lượng và sử dụng vật liệu xây dựng trong công trình; thu hồi, tái chế, xử lý chất thải làm vật liệu xây dựng; điều phối cung, cầu; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về vật liệu xây dựng; định hướng giảm phát thải khí nhà kính và áp dụng các công cụ kinh tế về carbon theo quy định pháp luật hiện hành.

Thành Luân

Nguồn KTĐT: https://kinhtedothi.vn/thi-truong-vat-lieu-xay-dung-dau-nam-2026-ap-luc-chi-phi-day-gia-nhich-len.962880.html