Tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng: Trên đường lớn phú cường
Lời Tòa soạn: Hướng tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Báo Đại biểu Nhân dân trân trọng giới thiệu loạt bài 'Trên đường lớn phú cường' của Ts. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.
Bài 1:
Định vị chiến lược đất nước
từ yêu cầu phát triển của tương lai

Đại hội lần thứ XIV của Đảng sẽ xác quyết con đường phát triển Việt Nam trong tầm nhìn 2050, trước mắt tới 2030. Thực tiễn xác tín, ý tưởng định hình dòng chảy lịch sử. Nhưng, ý tưởng, xét cho tới cùng là lực lượng. Sự phát triển vô hạn cũng là tư tưởng và sức mạnh của tính cách dân tộc Việt Nam. Sự kết hợp của hai thứ đó, kỳ vọng sẽ tạo ra lịch sử mới.
Không ngừng đổi mới từ nhận thức đến hệ thống tổ chức
Trong điều kiện mới, khi không ít phương diện đã hoàn toàn khác trước, từ vị thế hiện nay, càng không thể bước vào thời đại mới với tầm nhìn trong bối cảnh hiện thực và ngày mai biến ảo, nhất là những quyết sách chiến lược và một tâm thế của nhiều thập kỷ trước. Do đó, không ngừng đổi mới từ nhận thức đến hệ thống tổ chức, từ tư duy chiến lược đến thể chế phát triển, từ cơ chế vận hành với phương lược hành động bảo đảm tương dung với thế giới và đất nước sau 40 năm đổi mới và bước tới thập kỷ thứ ba và đi tới những năm 50 của thế kỷ XXI.
Tất cả đang và sẽ thách thức chúng ta.
Phát triển một dân tộc kiêu hãnh: chúng ta phải định vị chiến lược đất nước từ yêu cầu phát triển của tương lai, không thể đơn giản chỉ từ vị thế của quá khứ dân tộc. Đây là một thách thức kép: một mặt đang đến từ tương lai và mặt khác thách thức là nguy cơ của quá khứ.
Dân tộc Việt Nam phải kiến thiết một quốc gia phú cường, không chỉ giàu có về vật chất mà còn tiên phong về trí tuệ, bản lĩnh và văn hóa; phát triển toàn diện, có chiều sâu, mang bản sắc riêng, không lệ thuộc.
Đó là một quốc gia phát triển: hiện đại - dân chủ - nhân văn - tự cường - bản sắc; đồng thời, là trung tâm kết nối trí tuệ - văn hóa - kinh tế - chính trị trong khu vực Đông Nam Á và có ảnh hưởng tích cực trong thế giới của dân tộc Việt Nam.
Hình mẫu quốc gia phú cường: nếu giai đoạn 30 năm đổi mới từ 1986 - 2015 là sự “thức dậy” về tư duy, đổi mới về cơ chế, chủ động trong hội nhập toàn cầu, thì giai đoạn 30 năm đổi mới tiếp theo tới năm 2050 sẽ được định hình bởi những cố gắng phi thường của cả dân tộc đột phá về đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
Mục tiêu chiến lược dân giàu: thu nhập cao, phân phối công bằng, cơ hội rộng mở; nước mạnh: tự chủ chiến lược về chính trị, an ninh, quốc phòng, công nghệ, văn hóa và môi trường sinh thái; xã hội dân chủ - công bằng - văn minh: nơi con người là trung tâm, nhân phẩm và sáng tạo được tôn vinh.
Độc lập dân tộc gắn với hiện đại hóa quốc gia xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2050 tương lai trở thành là một quốc gia phú cường toàn diện, không chỉ tăng trưởng kinh tế, mà đạt trình độ phát triển xã hội nhân văn cao; là quốc gia có bản sắc riêng, văn hóa không bị lai tạp, định vị chính mình giữa làn sóng toàn cầu hóa; một xã hội công dân mạnh, với tầng lớp trí thức, doanh nhân, và thanh niên có bản lĩnh lý tưởng và tư duy toàn cầu. Việt Nam chỉ đứng vững và phát triển trên nền đạo đức và bản lĩnh dân tộc truyền thống song hành với hiện đại, không thể trông đợi, rập khuôn hay dịch chuyển các mô hình, giá trị văn hóa ngoại lai.
Đó phải là sự hòa hợp giữa truyền thống dân tộc và giá trị thời đại:
Giá trị quốc gia dân tộc: Độc lập - Tự cường - Thống nhất - Văn hiến - Hòa bình.
Giá trị xã hội: Dân chủ - Công bằng - Văn minh - Đổi mới - Hội nhập.
Giá trị đạo đức, văn hóa, tinh thần xã hội: trung thực, trách nhiệm, liêm chính, phụng sự cộng đồng, thượng tôn pháp luật trên nền móng Chân - Thiện - Mỹ - Nhân - Nghĩa - Tín là cốt lõi hệ giá trị của xã hội Việt Nam hiện đại.
Giá trị con người Việt Nam: yêu nước, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo, khát vọng phát triển đất nước tương hợp và dung hòa với nhân loại.
Giá trị của chính trị Việt Nam: nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Chính danh quyền lực - Chính quyền phụng sự - Chính pháp kỷ cương - Chính tín đạo đức. Đảng lãnh đạo, cầm quyền, “vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” vừa là “con nòi” của dân tộc. Nói khái lược, Việt Nam của thế kỷ XXI là một quốc gia hội tụ hệ phẩm chất: Phát triển - Dân chủ - Văn minh - Phú cường - Hiện đại - Toàn cầu hóa.
Tất cả đặt trên nền tảng tư tưởng phát triển Việt Nam tương lai: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Lý luận Đổi mới.
Đó là gương mặt và tư chất Việt Nam phú cường.
Tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ dựa trên 3 nguyên lý tổ chức thực tiễn
Từ tầm viễn kiến, để hiện thực hóa khát vọng phú cường, không thể không xử lý mối quan hệ giữa lý tưởng với hiện thực, giữa chiến lược và sách lược, giữa tầm nhìn xa rộng với hành động cụ thể, giữa lựa chọn phương thức và tốc độ phát triển, giữa thời và thế, … kiên quyết tự vượt qua mình, khi thời cơ và vận hội tới một cách nghệ thuật.
Tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ dựa trên 3 nguyên lý tổ chức thực tiễn: 1 - Thấu hiểu nhân dân - học hỏi nhân dân - phục vụ nhân dân; 2 - Tổ chức thực tiễn phải đặt trên nền tảng tầm nhìn chính trị và cơ sở kinh tế xã hội hiện thực, năng lực hành động dưới sự dẫn dắt của tầm nhìn chiến lược, với tốc độ phù hợp; 3 - Hiệu quả được lượng hóa bằng kết quả cụ thể và được đo bằng sự hài lòng, ủng hộ và đời sống của nhân dân.
Từ tầm viễn kiến, hoạch định lộ trình với hệ điều kiện cần và đủ và mục tiêu cụ thể của mỗi chặng đường, với những sóng tăng trưởng phù hợp trong tầm nhìn 2050 và xa hơn. Theo tính toán, từ 2026 - 2030: chuẩn bị tiền đề toàn diện cho cuộc “cất cánh”, với tốc độ tăng trưởng từ 8% - 9%/năm. Từ 2031 - 2050: chặng đường bứt tốc toàn diện, với 2 nhịp: 2031 - 2040 đạt tốc độ từ 10,5% - 11%/năm và từ 2040 - 2050 đạt 10% - 10,5%/năm.
Đây là thử thách to lớn đòi hỏi một cuộc tự vượt lên mình. Không do dự, chủ quan, càng không cầu toàn, không rơi vào trì trệ nhưng cũng không vội vàng, không ảo tưởng, nhất là trong tình hình thế giới biến động phức tạp và rất khó tiên liệu.
Đổi mới tư duy kiến tạo thay vì chỉ bó hẹp tư duy quản lý: chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo - phục vụ - đối tác. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm đổi mới thể chế linh hoạt - hành động nhanh, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Lượng hóa trong cấu trúc lại hệ thống bộ máy, đoạn tuyệt song trùng, xóa bỏ tầng nấc trung gian, không rõ nhiệm vụ trên cơ sở đẩy mạnh phân cấp, phân quyền một cách thống nhất trên nền tảng chuyển đổi số mạnh mẽ và minh bạch hóa trách nhiệm giải trình.
Đổi mới hệ thống chính trị - lý luận nhằm phát triển hệ lý luận Việt Nam về chủ nghĩa xã hội hiện đại, bản sắc tiến tới xây dựng nền lý luận khai sáng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - tinh thần đổi mới sáng tạo - trí tuệ - đạo đức mang tầm thời đại.
Nắm lấy phương thức phát triển rút ngắn gắn với phát triển lực lượng sản xuất với tốc độ cao nhưng bền vững: rút ngắn ở đây cả về thời hạn phát triển và bước đi (vừa tuần tự vừa nhảy vọt, rút ngắn tương đối thời hạn bước đi…) bảo đảm tăng tốc với tâm thế quốc gia đối đầu với mọi thách thức. Phát triển kinh tế nhà nước trong vai trò dẫn dắt kinh tế quốc gia, kinh tế ngoài nhà nước, trước hết kinh tế tư nhân giữ vai trò động lực; ưu tiên phát triển doanh nghiệp dân tộc, nhất là doanh nghiệp công nghiệp cơ khí, điện tử, lượng tử… Lường trước và hóa giải những “cú sốc” xã hội, “cú sốc” môi trường sinh thái… bảo đảm tự chủ chiến lược, với hệ chính sách vĩ mô và đòn bẩy phát triển cụ thể nhằm “khoan thư sức dân” và giữ gìn an ninh sinh thái, cân bằng giữa tăng trưởng và phát triển.
Thể chế hóa vai trò của nhân dân: từ đối tượng được phục vụ thành chủ thể kiến tạo và phát triển xã hội trên nền tảng Hiến pháp và thực tế đất nước. Đảng cầm quyền đổi mới, tự chỉnh đốn trong hơi thở và máu thịt nhân dân, lắng nghe dân tộc, tự học và tự sửa mình; không lấy nhân dân là căn bản, mọi thành công dù vang dội, mọi thành tựu dù to lớn, rốt cuộc cũng chỉ là tạm thời, hữu hạn và tự cô độc.
Trên nền móng triết lý của sự phát triển bền vững, nhân văn, đổi mới và kiến tạo hệ thống thể chế hiện thực với cơ chế vận hành đồng bộ, thống nhất và phù hợp trên tất cả các phương diện và thật sự phải là cương lĩnh hành động thống nhất và lượng hóa. Đồng thời, lựa chọn con đường phát triển ngắn hạn và rút ngắn sự phát triển khoa học và phù hợp, bằng cách đi thẳng vào khoa học công nghệ hiện đại, với hệ thống quản trị và bộ máy tương dung để đột phá phát triển lực lượng sản xuất trong tầm nhìn 2050.











