Tiếp tục tăng trưởng tích cực, sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng cao nhất cùng kỳ 8 năm gần đây

Tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ của giai đoạn 2019-2026.

Theo số liệu do Cục Thống kê công bố sáng 3/11, sản xuất công nghiệp tháng 10/2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước.

Tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP tháng 10/2026 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn: Quảng Ngãi tăng 6,5%; Quảng Ninh tăng 5,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,9%; Hải Phòng tăng 4,2%; Cần Thơ tăng 3,7%; Bắc Ninh tăng 3,4%; Đồng Nai tăng 2,4%; Vĩnh Long giảm 2,3%; Đà Nẵng giảm 3,6%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ của giai đoạn 2019-2026.

(Nguồn: Cục Thống kê)

(Nguồn: Cục Thống kê)

Chỉ số sản xuất nhiều ngành trọng điểm tăng khá

Trong tháng 10/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo và ngành sản xuất và phân phối điện cùng tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%; ngành khai khoáng tăng 4,9%.

Tính chung 10 tháng năm 2026, IIP ngành chế biến, chế tạo tăng 13% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,4%), đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 7,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 0,2%), đóng góp 1,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 6,6%), đóng góp 1,0 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2% (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,5%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của nhiều ngành trọng điểm cấp II tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành đạt mức tăng cao gồm: Sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,9%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 12,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 11,7%; dệt tăng 10,7%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 10,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,1%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng thấp 4,3%; khai thác than cứng và than non giảm 0,6%.

(Nguồn: Cục Thống kê)

(Nguồn: Cục Thống kê)

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng ở 33 địa phương

Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 33 địa phương, riêng Sơn La giảm 5,0%. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.

Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Hà Tĩnh tăng 41,1%; Quảng Ninh tăng 34,2%; Ninh Bình tăng 26,1%; Nghệ An tăng 25,8%; Thái Nguyên tăng 23,3%; Bắc Ninh tăng 20,5%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hà Tĩnh tăng 55,6%; Quảng Trị tăng 32,8%; Hải Phòng tăng 18,5%; Quảng Ninh tăng 13,0%.

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.

Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2026 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Lạng Sơn tăng 2,5%; Lào Cai tăng 5,0%. Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện mười tháng năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sơn La giảm 7,5%; Tuyên Quang giảm 0,9%; Điện Biên giảm 0,5%. Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng mười tháng năm 2026 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Gia Lai tăng 4,8%; Tuyên Quang giảm 0,9%; Đà Nẵng giảm 45,6%.

(Nguồn: Cục Thống kê)

(Nguồn: Cục Thống kê)

Trong 10 tháng năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24,0%; thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; đường kính tăng 18,9%; sắt, thép thô tăng 17,0%; bia tăng 14,6%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1%; khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.

Tại thời điểm 01/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm trước. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước nhưng giảm 2,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 3,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,2% và tăng 1,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và tăng 3,9%.

Việt Hằng

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/tiep-tuc-tang-truong-tich-cuc--san-xuat-cong-nghiep-10-thang-tang-cao-nhat-cung-ky-8-nam-gan-day-563276.htm