Trình tự, thủ tục xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển đô thị được quy định thế nào?
Đây là một trong những nội dung chính trong Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/1/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị.
Chương trình phát triển đô thị được lập theo giai đoạn 10 năm
Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho biết, tính đến trước ngày 1/7/2025, thời điểm thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc phê duyệt chương trình phát triển đô thị tỉnh.

Hơn 400 đô thị thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã phê duyệt chương trình phát triển đô thị cho từng đô thị.
Khoảng 450/900 đô thị (gồm thành phố, thị xã và thị trấn) thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã phê duyệt chương trình phát triển đô thị cho từng đô thị.
Nhưng hiện nay, mô hình tổ chức chính quyền địa phương đã có thay đổi dẫn đến một số quy định về nội dung, trình tự lập, thẩm định và phê duyệt chương phát triển đô thị tại Nghị định số 11/2013/NĐ-CP không còn phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Do đó, việc ban hành Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/1/2026 quy định chi tiết một số điều của nghị quyết về phân loại đô thị là hết sức cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị trong tình hình mới.
Theo Nghị định số 35/2026/NĐ-CP, chương trình phát triển đô thị được lập cho tỉnh, thành phố (bao gồm cả Thủ đô Hà Nội và TP.HCM) theo giai đoạn 10 năm, làm cơ sở để thực hiện đầu tư, phát triển hệ thống đô thị của tỉnh, thành phố và dự kiến các nguồn lực phục vụ cho việc đầu tư phát triển đô thị trên địa bàn toàn tỉnh, thành phố trong giai đoạn của chương trình.
Chương trình phát triển đô thị phải phù hợp với quy hoạch tỉnh, thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn, kế hoạch cấp quốc gia, cấp vùng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển vùng kinh tế, quy hoạch sử dụng đất có liên quan đến phát triển đô thị và khả năng huy động nguồn lực thực tế tại địa phương.
Chương trình cần đáp ứng các yêu cầu về phát triển đô thị thông minh, đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và bảo đảm yêu cầu phòng chống thiên tai theo quy định.
Chương trình phát triển đô thị có thể được xây dựng song song với quá trình lập, phê duyệt quy hoạch tỉnh, quy hoạch thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn nhưng thực hiện phê duyệt sau khi quy hoạch tỉnh, quy hoạch thành phố, quy hoạch chung thành phố được phê duyệt.
Về trình tự, thủ tục, Sở Xây dựng có trách nhiệm lập báo cáo đề xuất xây dựng chương trình phát triển đô thị đề nghị UBND cấp tỉnh phê duyệt.
Sau khi có quyết định phê duyệt, Sở Xây dựng có thể trực tiếp xây dựng chương trình hoặc thuê đơn vị tư vấn có kinh nghiệm trong việc xây dựng các chương trình, đề án để thực hiện.

Chương trình phát triển đô thị phải phù hợp với quy hoạch tỉnh, thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội...
Chương trình phát triển đô thị được lập theo đề cương quy định tại phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 35/2026/NĐ-CP.
Sau khi hoàn thành dự thảo chương trình phát triển đô thị, Sở Xây dựng gửi lấy ý kiến góp ý dự thảo chương trình của các Sở, ngành chuyên môn thuộc tỉnh, thành phố, UBND cấp xã và các cơ quan liên quan khác theo yêu cầu của UBND cấp tỉnh.
Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Sở Xây dựng, các cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời.
Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản góp ý, Sở Xây dựng hoàn thiện chương trình và gửi 1 bộ hồ sơ đến UBND cấp tỉnh để cơ quan này có tờ trình và bảng tổng hợp kết quả giải trình, tiếp thu ý kiến trình HĐND cấp tỉnh thông qua.
Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày có nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt chương trình.
Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định phê duyệt chương trình phát triển đô thị, UBND cấp tỉnh thực hiện đăng tải công khai chương trình trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, đồng thời gửi chương trình cho Sở Xây dựng để đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Sở và gửi 1 bản về Bộ Xây dựng để theo dõi, đôn đốc thực hiện theo thẩm quyền.
Sau thời hạn 5 năm thực hiện chương trình phát triển đô thị hoặc khi có thay đổi quy hoạch dẫn đến phải thay đổi một số nội dung của chương trình thì UBND cấp tỉnh phải rà soát, điều chỉnh chương trình cho phù hợp.
Giữa kỳ chương trình phát triển đô thị, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức sơ kết để đánh giá, đề xuất điều chỉnh chương trình (nếu có).
Trước khi kết thúc thời hạn chương trình tối đa 9 tháng, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức tổng kết, đánh giá để xây dựng chương trình cho giai đoạn tiếp theo và báo cáo kết quả về Bộ Xây dựng để theo dõi.
Kế hoạch phát triển đô thị được lập theo giai đoạn 5 năm
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định số 35/2026/NĐ-CP, kế hoạch phát triển đô thị được xây dựng và áp dụng cho từng phường, đặc khu được xác định là đô thị hoặc xã, đặc khu dự kiến thành đô thị theo chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt, làm cơ sở để dự kiến nguồn lực và tổ chức triển khai thực hiện việc đầu tư phát triển đô thị trên địa bàn đáp ứng trình độ phát triển đô thị tương ứng theo phân loại đô thị.
Kế hoạch phát triển đô thị được lập theo giai đoạn 5 năm và phải phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn được lập cho địa phương, phù hợp với chương trình phát triển đô thị, các kế hoạch chuyên ngành khác có liên quan đến phát triển đô thị trên địa bàn và khả năng huy động nguồn lực thực tế tại địa phương.
Việc xây dựng kế hoạch phát triển đô thị có thể thực hiện song song với việc xây dựng chương trình phát triển đô thị và được phê duyệt sau khi chương trình phát triển đô thị được phê duyệt.
Về trình tự, thủ tục, UBND cấp xã thuộc trường hợp đơn vị hành chính cấp xã quy định tại khoản 1 Điều 7 của nghị định này lập báo cáo đề xuất xây dựng kế hoạch phát triển đô thị đề nghị UBND cấp tỉnh phê duyệt.
Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh xem xét, phê duyệt; nếu không phê duyệt thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
Sau khi UBND cấp tỉnh có quyết định phê duyệt, UBND cấp xã có thể trực tiếp xây dựng kế hoạch hoặc thuê đơn vị tư vấn có kinh nghiệm trong việc xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án để thực hiện. Kế hoạch phát triển đô thị được lập theo đề cương quy định tại mẫu số 03 của phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 35/2026/NĐ-CP.

Kế hoạch phát triển đô thị được lập theo giai đoạn 5 năm và phải phù hợp với quy hoạch đô thị và nông thôn được lập cho địa phương, phù hợp với chương trình phát triển đô thị.
Sau khi hoàn thành dự thảo kế hoạch phát triển đô thị, UBND cấp xã gửi lấy ý kiến góp ý dự thảo kế hoạch của các sở, ngành chuyên môn thuộc tỉnh, thành phố. Trong thời hạn tối đa 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản, các cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến phải có văn bản trả lời.
Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản góp ý, UBND cấp xã phải hoàn thiện kế hoạch và gửi 1 bộ hồ sơ (bao gồm tờ trình, dự thảo kế hoạch kèm theo và bảng tổng hợp kết quả giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý) trình HĐND cùng cấp xem xét, thông qua.
Trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kể từ ngày có nghị quyết của HĐND cấp xã, UBND cấp xã lập 1 bộ hồ sơ theo quy định trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.
Trong thời hạn tối đa 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ trình của UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh xem xét, ban hành quyết định phê duyệt kế hoạch phát triển đô thị theo quy định; trường hợp không phê duyệt thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do.
Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt kế hoạch phát triển đô thị của UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã đăng tải công khai kế hoạch trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp xã, đồng thời gửi Sở Xây dựng, UBND cấp tỉnh để theo dõi, quản lý và chỉ đạo thực hiện theo thẩm quyền.
Trường hợp có điều chỉnh chương trình phát triển đô thị hoặc điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn dẫn đến phải thay đổi một số nội dung của kế hoạch phát triển đô thị thì UBND cấp xã xây dựng nội dung điều chỉnh kế hoạch trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định phê duyệt điều chỉnh hoặc phê duyệt điều chỉnh nếu được phân cấp theo quy định. Thời gian thực hiện điều chỉnh kế hoạch tối đa là 3 tháng.
Giữa kỳ kế hoạch phát triển đô thị, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức sơ kết để đánh giá, đề xuất điều chỉnh kế hoạch (nếu có). Trước khi kết thúc thời hạn kế hoạch phát triển đô thị tối đa 6 tháng, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức tổng kết, đánh giá để xây dựng kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo và báo cáo kết quả về Sở Xây dựng để theo dõi, đôn đốc thực hiện.
Định kỳ hàng năm, Sở Xây dựng lựa chọn địa phương để khảo sát, đánh giá việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển đô thị để yêu cầu địa phương có giải pháp tháo gỡ nhằm triển khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả trên địa bàn.











