Từ bản lĩnh lịch sử đến tầm nhìn trăm năm
Gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực dẫn dắt dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử. Thực tiễn ấy đúc kết bài học sâu sắc về nhận diện thời cuộc, hoạch định đường lối, phát huy sức mạnh nhân dân và tổ chức thực hiện hiệu quả. Kế thừa những giá trị đó, yêu cầu đặt ra hôm nay là tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, tạo nền tảng vững chắc để định hình tầm nhìn và dẫn dắt đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới.

Mùa Xuân năm 1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng; mở ra con đường đấu tranh đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiến hành các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi mới. Từ hành trình đấu tranh giành độc lập, tự do đến hội nhập quốc tế, thực tiễn đã rút ra những bài học sâu sắc về bản lĩnh, tầm nhìn, đường lối lãnh đạo và khả năng phát huy sức mạnh nhân dân trong mỗi bước ngoặt phát triển của đất nước.
Lịch sử gần một thế kỷ là nền tảng quan trọng để nhìn về tương lai, nhưng những thành tựu đã đạt được không đồng nghĩa với việc đất nước có thể mặc nhiên duy trì đà phát triển.
Gần một thế kỷ lịch sử đã tạo dựng nền tảng cho tương lai đất nước. Song, trong một thế giới không ngừng biến đổi, phát triển không chỉ đòi hỏi kế thừa những giá trị đã có, mà còn đòi hỏi bản lĩnh đổi mới và năng lực vượt qua chính những giới hạn của mình.
Thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, sâu sắc với cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, sự dịch chuyển các trung tâm kinh tế, những đột phá về khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các thách thức an ninh phi truyền thống. Những biến động ấy mở ra cơ hội phát triển mới, đồng thời đặt Việt Nam trước sức ép cạnh tranh và nguy cơ tụt hậu. Thực tiễn đó đòi hỏi phải chủ động đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện, khơi thông mọi nguồn lực, tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Đặt trong chiều dài lịch sử cách mạng và yêu cầu phát triển của thời đại, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (diễn ra từ ngày 5 đến 8-10-2026) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đồng thời định hình những định hướng chiến lược cho chặng đường phát triển tiếp theo. Các quyết sách về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền; công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực và trọng dụng nhân tài; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, gắn yêu cầu xây dựng Đảng với nâng cao năng lực quản trị, tổ chức thực hiện và phát triển đất nước.
Đặc biệt, việc thông qua Kết luận về Đề cương tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng; Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thể hiện yêu cầu kết hợp tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận, kế thừa những bài học lịch sử, hoạch định tầm nhìn dài hạn cho tương lai.

Điểm nổi bật là các vấn đề được đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng Đảng, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và phát triển đất nước; giữa giải quyết những yêu cầu cấp bách trước mắt với chuẩn bị nền tảng cho tương lai lâu dài. Tư tưởng xuyên suốt trong các phát biểu khai mạc và bế mạc Hội nghị của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, gắn trách nhiệm với hiệu quả thực thi, lấy những chuyển biến thực chất trong đời sống và niềm tin của nhân dân làm thước đo. Từ bản lĩnh được khẳng định qua gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng đến tầm nhìn phát triển đất nước trong thế kỷ tiếp theo, chúng ta có niềm tin mạnh mẽ, Đảng sẽ tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực kiến tạo phát triển, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Một trong những bài học có ý nghĩa xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền với kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước.
Qua mỗi bước ngoặt lịch sử, Đảng lại đứng trước những yêu cầu mới của thực tiễn. Đó là phải nhận diện đúng tình hình, nắm bắt thời cơ, dự báo và vượt qua thách thức; trên cơ sở đó, hoạch định đường lối, xác định mục tiêu và lựa chọn phương thức hành động phù hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc và nguyện vọng của nhân dân. Công cuộc đổi mới được khởi xướng tại Đại hội VI của Đảng năm 1986 là minh chứng tiêu biểu cho bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo, mở ra bước phát triển mới cho đất nước.
Nếu trong những giai đoạn trước, năng lực lãnh đạo của Đảng được khẳng định qua sứ mệnh đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu ấy đã phát triển lên một tầm cao mới. Đó là tầm nhìn chiến lược và năng lực hoạch định chính sách; khả năng hoàn thiện thể chế, xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; năng lực giải quyết những vấn đề mới, phức tạp nảy sinh từ thực tiễn. Đồng thời, phải khơi thông các nguồn lực, phát huy sức mạnh nội sinh, nâng cao tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế, năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia.
Thực tiễn đó đòi hỏi phương thức lãnh đạo phải không ngừng đổi mới, bảo đảm chủ trương, đường lối được cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách và kết quả thực chất, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh đó, việc Hội nghị Trung ương 4 xem xét, quyết định các chủ trương về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ dừng ở yêu cầu củng cố tổ chức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện và hiệu quả giải quyết những nhiệm vụ chính trị đặt ra. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị không chỉ được khẳng định bằng chủ trương hay quyết tâm chính trị, mà phải được kiểm chứng qua kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và sự liêm chính của mỗi cán bộ, đảng viên. Thước đo cuối cùng của hiệu quả xây dựng Đảng chính là những chuyển biến thực chất trong đời sống, sự hài lòng và niềm tin của nhân dân.
Yêu cầu đặt ra là tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình, chủ động nhận diện, khắc phục khuyết điểm, kiên quyết phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cùng với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, cần phát huy dân chủ trong Đảng, khuyến khích tư duy đổi mới, đề cao tinh thần trách nhiệm và bảo vệ những ý kiến thẳng thắn, có căn cứ, vì lợi ích chung; khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, không dám đối diện với hạn chế của mình.

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải nghe được sự thật để tự sửa chữa. Đối với một Đảng cầm quyền, đây không chỉ là yêu cầu về phương pháp lãnh đạo mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Muốn vậy, phải xuất phát từ thực tiễn, đánh giá khách quan, toàn diện cả thành tựu và hạn chế, thẳng thắn nhìn nhận những bất cập, không để tư duy chủ quan hay tâm lý bằng lòng với kết quả đạt được làm suy giảm ý chí đổi mới.
Quan trọng hơn, lắng nghe sự thật phải đi đôi với hành động cụ thể: Kịp thời khắc phục khuyết điểm, hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả thực thi và giải quyết thỏa đáng những vấn đề chính đáng của nhân dân. Việc nhận diện vấn đề phải gắn liền với trách nhiệm sửa chữa và kết quả thực chất, qua đó chuyển hóa năng lực tự đổi mới của Đảng thành động lực phát triển, góp phần củng cố niềm tin và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Cùng với đó, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu tiếp tục phát triển lý luận từ thực tiễn Việt Nam, kế thừa những giá trị đã được kiểm nghiệm, nghiên cứu những vấn đề mới nảy sinh. Đây là những công việc hệ trọng, cần được tiến hành thận trọng, khoa học, dân chủ, khách quan, giữ vững các nguyên tắc cơ bản và tính ổn định của Điều lệ Đảng, bảo đảm đúng thẩm quyền theo quy định.
Gần một thế kỷ lịch sử cho thấy, sức mạnh của Đảng không chỉ được hun đúc từ sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng, mà còn được khẳng định qua bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn và không ngừng hoàn thiện. Chính khả năng nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện những hạn chế và chủ động đổi mới để đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử là nền tảng quan trọng để Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tiếp tục đảm đương trọng trách trước đất nước và nhân dân trong thời kỳ phát triển mới.


Một vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn được đặt ra tại Hội nghị Trung ương 4 là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng phải gắn chặt với yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và năng lực quản trị quốc gia.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, yêu cầu đặt ra là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng nguyên tắc, phương thức, đồng thời phát huy đầy đủ vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đảng lãnh đạo toàn diện không đồng nghĩa với bao biện, làm thay chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước. Cũng như vậy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền không có nghĩa là giảm nhẹ vai trò lãnh đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát hay thiếu trách nhiệm trong kiểm soát quyền lực. Vấn đề cốt lõi là xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức trong thực thi nhiệm vụ.
Từ góc độ quản trị phát triển, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng. Một chủ trương đúng nếu chậm được thể chế hóa, thiếu sự phối hợp hoặc không xác định rõ trách nhiệm thực hiện thì khó tạo ra hiệu quả mong muốn. Ngược lại, khi thẩm quyền được phân định minh bạch, trách nhiệm được xác lập cụ thể và cơ chế kiểm tra, giám sát vận hành hiệu quả, bộ máy sẽ chủ động hơn trong giải quyết công việc, giảm chi phí xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp càng làm rõ yêu cầu ấy. Phân cấp phải gắn với nguồn lực, nhân lực, năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm của cả cấp giao nhiệm vụ lẫn cấp trực tiếp thực hiện. Không thể yêu cầu cơ sở giải quyết tốt công việc khi chưa được bảo đảm đầy đủ điều kiện cần thiết; cũng không thể để những việc thuộc thẩm quyền tiếp tục kéo dài vì tâm lý chờ đợi, xin ý kiến nhiều vòng.

Trong phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm quyết định và chịu trách nhiệm của những người đã được giao thẩm quyền. Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu đổi mới văn hóa thực thi quyền lực, chuyển từ tư duy làm đúng quy trình một cách hình thức sang thực hiện đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và chịu trách nhiệm về kết quả. Chuyển đổi số, dữ liệu và công nghệ phải phục vụ việc ra quyết định chính xác hơn, giảm thủ tục và tăng hiệu quả công việc, thay vì tạo thêm những tầng nấc hành chính mới.
Gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ. Trung ương xác định phải xây dựng phương thức quản trị đội ngũ thống nhất, liên thông, xuyên suốt, dựa trên vị trí việc làm, yêu cầu năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và dữ liệu có kiểm chứng; đồng thời chú trọng thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ cấp cơ sở và người đứng đầu. Điểm cốt lõi là chuyển mạnh sang đánh giá cán bộ bằng phẩm chất, năng lực thực chất, uy tín và kết quả công việc, có tính đến độ khó, điều kiện thực hiện, giá trị lâu dài của nhiệm vụ được giao.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không thể thiếu đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, năng lực tổ chức, khả năng dự báo, bản lĩnh xử lý những vấn đề phức tạp. Đối với cán bộ cấp chiến lược, yêu cầu đặt ra là biết lựa chọn ưu tiên, xử lý những vấn đề liên ngành, liên vùng và chuẩn bị nguồn lực cho tương lai. Đối với cán bộ cơ sở, năng lực phải thể hiện bằng khả năng nắm chắc địa bàn, giải quyết công việc và phục vụ nhân dân.
Đặc biệt, Hội nghị đặt ra yêu cầu kiểm soát đồng thời hai biểu hiện lạm quyền và né tránh trách nhiệm. Đây là hai mặt của cùng một vấn đề trong thực thi quyền lực. Lạm quyền có thể làm sai lệch chính sách, gây thất thoát nguồn lực, xâm phạm lợi ích công; trong khi né tránh trách nhiệm khiến công việc đình trệ, nguồn lực không được sử dụng và cơ hội phát triển bị bỏ lỡ. Cả hai đều phải được khắc phục bằng cơ chế phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực chặt chẽ.
Kỷ luật nghiêm minh phải đi đôi với bảo vệ cán bộ liêm chính, dám đổi mới vì lợi ích chung. Cần phân biệt rõ hành vi cố ý làm trái, vụ lợi, thiếu trách nhiệm với rủi ro khách quan trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ mới, khó, trên cơ sở các quy định hiện hành và cơ chế đánh giá phù hợp. Chỉ khi trách nhiệm và quyền hạn tương xứng, việc đánh giá công bằng, môi trường làm việc minh bạch, cán bộ mới có điều kiện phát huy đầy đủ năng lực, bản lĩnh và tinh thần cống hiến.
Tầm nhìn chiến lược dù đúng đắn đến đâu cũng phải được bảo đảm bằng đội ngũ có khả năng hiện thực hóa. Năng lực cầm quyền của Đảng vì thế không chỉ thể hiện ở chất lượng hoạch định đường lối, mà còn ở hiệu quả thể chế hóa, tổ chức thực hiện và những chuyển biến cụ thể trong đời sống xã hội.

Nếu đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là điều kiện chính trị, tổ chức để mở đường cho phát triển, thì giải phóng các nguồn lực, đổi mới mô hình tăng trưởng và khơi dậy sức sáng tạo của con người chính là những động lực trực tiếp thúc đẩy đất nước tiến lên, từng bước hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng.
Hội nghị Trung ương 4 xác định năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đặt nền móng cho giai đoạn phát triển mới; năm 2027 là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà cho những năm tiếp theo. Yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đòi hỏi đổi mới đồng bộ về tư duy phát triển, chất lượng thể chế và hiệu quả tổ chức thực hiện, bởi tăng trưởng cao chỉ có ý nghĩa lâu dài khi tạo ra năng lực sản xuất mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện thực chất đời sống nhân dân.
Từ góc độ kinh tế chính trị, nguồn lực phát triển không chỉ là vốn, đất đai, tài nguyên hay lao động, mà còn là chất lượng thể chế, niềm tin xã hội, năng lực quản trị và khả năng huy động sức sáng tạo của toàn dân. Một thể chế hiệu quả phải phân bổ tốt các nguồn lực hiện có, đồng thời tạo điều kiện hình thành những nguồn lực mới, khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Đây cũng là cơ sở để chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, chất lượng, đổi mới sáng tạo.


Trong bối cảnh đó, đổi mới tư duy về việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh là một vấn đề đáng chú ý. Từ cách tiếp cận cho phép sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước là một bước chuyển về nhận thức, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về chấp hành pháp luật, giữ vững bản chất của Đảng, bảo đảm liêm chính và kiểm soát xung đột lợi ích. Quyền lực, thông tin và tài sản công không thể trở thành lợi thế kinh doanh riêng. Tinh thần căn bản của chủ trương này là phát huy hoạt động kinh tế hợp pháp, khuyến khích lao động, sáng tạo và cống hiến, đồng thời bảo đảm kỷ luật, sự công bằng và trách nhiệm đối với xã hội.
Đặc biệt, chủ trương xây dựng chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài cho thấy nhận thức sâu sắc về vai trò của con người trong mô hình phát triển mới. Trong thời đại kinh tế tri thức, khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo, năng lực cạnh tranh quốc gia ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ, chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế, xã hội.
Vấn đề không đơn thuần là thu hút được bao nhiêu nhân tài, mà quan trọng hơn là sử dụng nhân tài như thế nào. Phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược của đất nước để tìm người, giao việc, trao quyền và bảo đảm điều kiện thực hiện; tạo môi trường để các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân và những người có năng lực sáng tạo được cống hiến bằng chuyên môn, không nhất thiết phải thông qua việc bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo hoặc tuyển dụng vào biên chế.
Đồng thời, cần coi trọng phát hiện, đào tạo và phát triển nhân tài trong nước, kết nối đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế; xây dựng mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Trọng dụng nhân tài phải trở thành một năng lực của hệ thống quản trị quốc gia, thay vì chỉ dừng lại ở những chính sách đãi ngộ riêng lẻ.
Sự thịnh vượng lâu dài của một quốc gia không thể chỉ dựa vào việc khai thác những nguồn lực sẵn có. Điều có ý nghĩa quyết định là khả năng không ngừng tạo ra những giá trị mới, những động lực tăng trưởng mới và những thế hệ con người có đủ tri thức, bản lĩnh, khát vọng để đưa đất nước tiến xa hơn.

Trong các nội dung được Hội nghị Trung ương 4 xem xét, việc thông qua đề cương tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo có ý nghĩa quan trọng về tư duy chiến lược.
Tổng kết lịch sử không chỉ nhằm nhìn lại, khẳng định những thành tựu đã đạt được, mà quan trọng hơn là nhận diện những quy luật vận động, đúc kết bài học từ cả thành công và hạn chế, làm rõ những nhân tố, điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Quá trình đó cần được tiến hành khách quan, khoa học, trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận, giữa kế thừa những giá trị đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng Việt Nam với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tri thức và thành tựu tiến bộ của nhân loại. Qua đó, lịch sử không chỉ là cơ sở để nhận thức sâu sắc hơn con đường đã đi qua, mà còn cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, xác lập tầm nhìn và lựa chọn những định hướng phát triển phù hợp với yêu cầu của tương lai.

Tầm nhìn 2030-2130 cũng không có nghĩa là xác định trước một cách cứng nhắc mọi mục tiêu, mô hình hay phương thức phát triển của đất nước sau một thế kỷ. Trong thế giới biến đổi nhanh chóng, điều quan trọng hơn là chuẩn bị năng lực tự chủ chiến lược, chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, nền tảng khoa học, công nghệ, sức mạnh văn hóa, quốc phòng, an ninh và khả năng thích ứng để các thế hệ tiếp theo có đủ điều kiện chủ động lựa chọn con đường phát triển phù hợp.
Nhìn từ chiều sâu ấy, trách nhiệm đối với tương lai trước hết phải được thể hiện trong chất lượng những quyết sách hôm nay. Mỗi chính sách về giáo dục, khoa học, công nghệ, hạ tầng, tài nguyên, môi trường và an sinh xã hội không chỉ tác động đến kết quả của một năm hay một nhiệm kỳ mà còn có thể định hình cơ hội phát triển của nhiều thế hệ.
Bởi vậy, cần khắc phục tư duy nhiệm kỳ, lợi ích cục bộ, bệnh thành tích và sự lãng phí nguồn lực. Không thể đánh đổi nền tảng phát triển lâu dài để đạt những kết quả ngắn hạn; càng không thể để sự trì trệ, thiếu trách nhiệm làm mất đi những thời cơ phát triển của đất nước. Từ nhiệm vụ hoàn thành các mục tiêu năm 2026, tạo chuyển biến mạnh trong năm 2027 đến những dấu mốc chiến lược 2030, 2045 và tầm nhìn 100 năm, mỗi giai đoạn phải góp phần củng cố những nền tảng bền vững cho giai đoạn tiếp theo.
Đây cũng là yêu cầu được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ khi kết luận Hội nghị. Các quyết sách phải được cụ thể hóa, thể chế hóa kịp thời; việc đã rõ phải làm ngay, trách nhiệm đã giao phải được thực hiện đến cùng; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ vướng mắc và phát huy vai trò của nhân dân. Đó là cách tiếp cận đặt trọng tâm vào hiệu quả thực thi, khắc phục khoảng cách giữa chủ trương và cuộc sống, giữa mục tiêu phát triển với kết quả thực tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh: “Giá trị của Hội nghị thể hiện qua những vấn đề được giải quyết, chuyển biến trong đời sống Nhân dân”. Tư tưởng ấy cũng chính là thước đo thực chất của năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Chủ trương đúng phải được thể chế hóa kịp thời, chính sách phải đi vào cuộc sống, quyền lực phải được kiểm soát, trách nhiệm phải được thực thi và thành quả phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử, sức mạnh của Đảng luôn gắn liền với sức mạnh của nhân dân. Bước vào thời kỳ phát triển mới, mối quan hệ ấy càng phải được củng cố bằng việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật, nâng cao hiệu quả quản trị, giải quyết kịp thời những vấn đề từ thực tiễn và tạo điều kiện để mọi người dân có cơ hội tham gia, đóng góp, thụ hưởng thành quả phát triển. Niềm tin của nhân dân không chỉ được xây dựng từ những mục tiêu lớn lao mà trước hết từ sự công bằng, trách nhiệm và những thay đổi tích cực trong cuộc sống hằng ngày.

* * *
Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vượt qua muôn vàn thử thách, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, từng bước nâng cao cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế. Những thành tựu đó là kết tinh của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, phát triển đất nước lên tầm cao mới.
Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIV), với những quyết sách quan trọng, chiến lược về xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, giải phóng nguồn lực và trọng dụng nhân tài... đã đặt ra những yêu cầu thiết thực để chuẩn bị cho hành trình ấy.
Từ bản lĩnh được tôi luyện qua gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta tiếp tục đứng trước yêu cầu đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đáp ứng đòi hỏi của thời đại. Tầm nhìn trăm năm không chỉ là sự tiếp nối những thành tựu lịch sử, mà còn đòi hỏi những quyết sách chiến lược, phương thức lãnh đạo phù hợp và hành động quyết liệt. Kiên định mục tiêu, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi thông mọi nguồn lực, lấy hiệu quả phát triển và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo là nền tảng để dựng xây đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Chỉ đạo thực hiện: Nguyễn Thanh Liêm
Thực hiện: Nguyễn Trung Sơn - Lê Hương - Vũ Hà
Thiết kế: Thanh Nga
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tu-ban-linh-lich-su-den-tam-nhin-tram-nam-1760998.html
