Từ Hiến pháp 1946 đến xây dựng một nhà nước thực sự vì nhân dân
Hiến pháp năm 1946 đã đặt nền móng cho một tư tưởng lập hiến tiến bộ: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Từ dấu mốc lịch sử ấy đến hành trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay là quá trình kế thừa và phát triển không ngừng tư tưởng lấy nhân dân làm chủ thể, trung tâm và mục tiêu của mọi hoạt động nhà nước.
Khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước
Ngày 9/11/1946, Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện này đánh dấu bước khai mở lịch sử lập hiến Việt Nam, xác lập một nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng đối với sự tồn tại và phát triển của nhà nước mới: mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Tiếp tục đưa quyền làm chủ của nhân dân trong từng quyết sách, từng đạo luật, từng hoạt động giám sát và từng việc làm cụ thể của cơ quan công quyền. Ảnh: Tâm Đan
Ngay tại Điều thứ Nhất, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây là thay đổi căn bản về địa vị chính trị, pháp lý của người dân Việt Nam. Từ thân phận người bị trị dưới chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân trở thành chủ thể của quốc gia độc lập, có quyền lựa chọn người đại diện, tham gia tổ chức chính quyền và được pháp luật ghi nhận, bảo vệ những quyền tự do cơ bản.
Đặc biệt, Chương II của Hiến pháp dành để quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, ghi nhận những quyền tiến bộ như: bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng nam nữ, tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp, tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín và quyền học tập... Trong điều kiện một xã hội vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, phong kiến, những quy định ấy thể hiện tầm nhìn lập hiến tiến bộ và tư tưởng nhân văn sâu sắc.
Có thể nói, giá trị lớn nhất của Hiến pháp năm 1946 không chỉ nằm ở những điều khoản cụ thể, mà ở sự xác lập một quan niệm mới về quan hệ giữa nhà nước và nhân dân: nhà nước được hình thành từ quyền lực của nhân dân, có trách nhiệm phục vụ và bảo vệ nhân dân.
Tư tưởng đó tiếp tục được kế thừa, phát triển qua Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992, đặc biệt được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 2013. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều 6 xác định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của nhà nước.
Tiếp tục đưa quyền làm chủ vào thực tiễn
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới nhấn mạnh yêu cầu thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, dưới sự giám sát của nhân dân.
Định hướng đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ ghi nhận quyền sang bảo đảm quyền được thực hiện trên thực tế; từ nền hành chính thiên về quản lý sang nền hành chính phục vụ; từ đánh giá bộ máy qua quy trình, đầu mối sang đánh giá bằng hiệu lực, hiệu quả giải quyết công việc và chất lượng phục vụ người dân.
Đây cũng là yêu cầu đối với việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, HĐND, nâng cao chất lượng dân chủ đại diện. Theo Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước. Phát huy đầy đủ vị trí, vai trò đó đòi hỏi Quốc hội phải thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Mỗi dự án luật cần được đánh giá tác động đầy đủ, tiếp thu thực chất ý kiến của đối tượng chịu sự tác động; mỗi hoạt động giám sát phải hướng tới phát hiện bất cập, làm rõ trách nhiệm và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.
Ở địa phương, HĐND phải phát huy thực chất vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Hoạt động chất vấn, giám sát và giải trình cần bám sát những vấn đề thiết thân với người dân như đất đai, quy hoạch, đầu tư công, môi trường, giáo dục, y tế và an sinh xã hội; đồng thời, làm rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền, đôn đốc thực hiện các cam kết và kiến nghị sau giám sát.
Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025, yêu cầu hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân càng trở nên cụ thể và cấp thiết. Việc sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức lại chính quyền ở cấp tỉnh và cấp xã không chỉ là thay đổi về tổ chức bộ máy, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị, phân định rõ thẩm quyền và nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ. Thành công của mô hình không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng đầu mối được tinh giản, mà phải bằng khả năng giải quyết công việc thông suốt, kịp thời, thuận tiện; khả năng tiếp cận dịch vụ công và mức độ đáp ứng những nhu cầu chính đáng của người dân, doanh nghiệp.
Sâu xa hơn, xây dựng nhà nước pháp quyền phải đặt con người ở vị trí trung tâm, lấy việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân làm yêu cầu xuyên suốt. Chuyển đổi số, cải cách hành chính, đổi mới tổ chức bộ máy hay hoàn thiện pháp luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố niềm tin của nhân dân đối với nhà nước.
80 năm trước, Hiến pháp năm 1946 đặt nền móng quan trọng cho nền lập hiến Việt Nam hiện đại, khẳng định những nguyên tắc tiến bộ về quyền làm chủ của nhân dân và tổ chức quyền lực nhà nước. 80 năm sau, giá trị ấy không chỉ nằm ở sự kế thừa trong các quy định hiến định, mà còn ở yêu cầu tiếp tục đưa quyền làm chủ vào thực tiễn: trong từng quyết sách, từng đạo luật, từng hoạt động giám sát và từng việc làm cụ thể của cơ quan công quyền. Đó cũng là thước đo quan trọng đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
