Từ một festival jazz đến một sản phẩm văn hóa của Thủ đô
Hơn 12.000 lượt người tham dự trực tiếp, 11 chương trình và hoạt động tại 9 không gian, cụm địa điểm trong ba ngày, Hanoi Jazztival 2026 đã đưa jazz từ sân khấu đến bảo tàng, không gian di sản, câu lạc bộ và đường phố. Nhưng để một festival kéo dài ba ngày trở thành một sản phẩm văn hóa của thành phố, câu hỏi có lẽ bắt đầu từ ngày thứ tư: điều gì sẽ tiếp tục khi sân khấu đã dỡ xuống?

Dư âm sau ba ngày festival
Tối 19/9, Hanoi Jazztival khép lại mùa đầu tiên tại Nhà Bát Giác, Vườn hoa Lý Thái Tổ. Trước đó, trong ba ngày, jazz xuất hiện ở nhiều không gian khác nhau của Hà Nội.
Theo Ban tổ chức, Hanoi Jazztival 2026 có 11 chương trình và hoạt động tại 9 không gian, cụm địa điểm, quy tụ 14 ban nhạc, nghệ sĩ và nhóm nghệ sĩ, trong đó có 7 ban nhạc quốc tế. Các hoạt động trải từ biểu diễn, triển lãm đến tọa đàm, workshop và jam session; địa điểm cũng thay đổi từ sân khấu chuyên nghiệp đến bảo tàng, không gian di sản, câu lạc bộ và đường phố.
Con số được Ban tổ chức công bố sau ba ngày là hơn 12.000 lượt khán giả và công chúng tham dự trực tiếp. Riêng đêm khai mạc có hơn 2.000 lượt, đêm thứ hai Jazz Without Borders gần 4.000 lượt và đêm bế mạc hơn 3.000 lượt.
Nhưng số người có mặt trước các sân khấu mới cho biết một phần câu chuyện.
Tại chương trình Woman in Jazz ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, bên cạnh những người chủ động tìm đến chương trình còn có khách đến tham quan bảo tàng hoặc có mặt trong khu vực rồi dừng lại khi nghe tiếng nhạc. Có người nghe vài bài rồi đi, có người ở lại lâu hơn.
Bảo Khánh, một khán giả đến từ Nha Trang, thuộc thế hệ 7X, vốn yêu âm nhạc và có nghe jazz. Chị biết một số giọng ca jazz của thế hệ trước nhưng không biết tên nhiều nữ nghệ sĩ trẻ xuất hiện trong chương trình hôm đó.
Tại chương trình này, điều khiến chị dễ tiếp cận hơn lại là những bài hát đã quen. Với những ca khúc Việt Nam, trong đó có nhạc Trịnh Công Sơn, giai điệu không xa lạ nhưng cách phối jazz đem lại cảm giác khác. Bên cạnh đó, phần trình diễn của nghệ sĩ quốc tế với những ca khúc tiếng Anh, tiếng Pháp quen thuộc cũng nhanh chóng có được sự tương tác với người nghe.

Woman in Jazz được tổ chức trong không gian mở của Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, nơi người đến xem chương trình và khách tham quan bảo tàng cùng có thể tiếp cận buổi diễn.
Một người đã có thói quen nghe nhạc có thể gặp một nghệ sĩ mới qua festival. Với Việt Nga, điểm bắt đầu lại khác.
Cô vốn yêu âm nhạc nhưng chưa đi sâu vào jazz, một phần vì chưa có điều kiện học. Cô gọi những gì mình nhận được từ Jazztival là một "spark" - một tia lửa khiến cô muốn tìm hiểu sâu hơn.
Tại buổi masterclass của nhạc sĩ Nguyên Lê, khi được nghe nghệ sĩ kể về quá trình tự học, tích lũy và tìm con đường của riêng mình, Việt Nga tìm được từ khóa để đến với jazz là "making your own way" - tự tìm con đường của mình.
"Trước khi có output, input của mình cũng phải đủ nhiều nữa" - Nga cho rằng trước khi có thể làm ra điều gì của riêng mình, phải nghe, học và tích lũy đủ nhiều. Điều nhận được từ buổi masterclass cũng không chỉ liên quan đến jazz khi cô thấy cách nghĩ ấy có thể áp dụng cho những lĩnh vực khác.
Nhưng với jazz, Nga vẫn còn một câu muốn được nhạc sĩ Nguyên Lê tư vấn mà chưa có dịp hỏi:
"Where do I start?" - "Em nên bắt đầu từ đâu?"

Masterclass "Ngôn ngữ Jazz trong âm nhạc truyền thống" của Nguyên Lê tại Hanoi Jazztival 2026.
NSƯT Quyền Văn Minh nhìn ba ngày của festival từ một điểm khác. Sau hơn nửa thế kỷ gắn với jazz, ông cho rằng ba ngày này là một hoạt động lớn để nhiều công chúng có cơ hội thưởng thức jazz, "nhưng đây mới chỉ là khởi đầu".
Theo nhạc sĩ, sau festival, người nghe cần biết mình có thể tiếp tục nghe jazz ở đâu. Hà Nội đã có những địa điểm chơi jazz thường xuyên nhưng số lượng vẫn ít. Vì thế, ông mong ở các khu vực đi bộ có thể có thêm những sân khấu jazz nhỏ, chương trình thay đổi thường xuyên để jazz có thêm cơ hội gặp công chúng.
Từ góc nhìn của một nghệ sĩ quốc tế, David Carlos Valdez cũng nhắc đến khoảng thời gian giữa hai mùa festival. Ông mong có những concert diễn ra trong suốt năm và Hanoi Jazztival có thể dần trở thành một "institution" - một phần ổn định của đời sống âm nhạc thành phố.
Với Tổng đạo diễn Dương Cầm, một điều mùa đầu tiên đã làm được là tạo ra cấu trúc của một festival thay vì chỉ đặt cạnh nhau một số đêm biểu diễn. Ngoài sân khấu còn có triển lãm, workshop, artist talk, jam session, giao lưu nghệ sĩ và các hoạt động kết nối cộng đồng.
"Chúng tôi cũng đã bước đầu hình thành được tinh thần của một lễ hội, thay vì chỉ tổ chức một vài đêm concert độc lập" - anh nói.

Jazz xuống phố và mang tinh thần của một lễ hội thay vì chỉ có những đêm diễn
Nhưng mùa đầu tiên cũng để lại những việc phải làm tiếp. Nhạc sĩ Dương Cầm cho rằng quy mô có thể mở rộng, hệ thống nhận diện và quảng bá cần mạnh hơn. Đặc biệt, trải nghiệm của người tham dự trong toàn bộ thời gian festival cần được đầu tư thêm.
"Một festival quốc tế không chỉ bao gồm âm nhạc trên sân khấu, mà còn là hệ sinh thái về dịch vụ, du lịch, ẩm thực, công nghệ, giao thông, thông tin và trải nghiệm đô thị" - nhạc sĩ Dương Cầm nói thêm.
Trong khi đó, Nhà sản xuất âm nhạc Nguyễn Thùy Dương (Chủ tịch IB Group Vietnam, đơn vị phối hợp sản xuất sự kiện Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội - Hanoi Jazztival 2026) cũng nhắc đến một điểm rất cụ thể sau mùa đầu: không gian biểu diễn. Theo anh, những mùa tới cần những địa điểm lớn và phù hợp hơn với trình diễn, cùng điều kiện hạ tầng, kỹ thuật được đầu tư tốt hơn.
Như vậy, những gì còn lại sau ba ngày không chỉ là câu chuyện mùa sau có thêm bao nhiêu nghệ sĩ hay sân khấu mà là việc những hình thức đã xuất hiện trong mùa đầu có thể sống tiếp ra sao.
Khoảng giữa hai mùa festival
Nếu ba ngày đầu tiên đã đưa một lượng công chúng đến với jazz, vấn đề tiếp theo là duy trì sự tiếp xúc ấy như thế nào.
Nhạc sĩ Dương Cầm cho rằng một số hoạt động của Hanoi Jazztival có thể diễn ra trong năm, trước hết là các chương trình giáo dục và phát triển cộng đồng: workshop, lớp học ngắn hạn, hướng dẫn nghe nhạc, tọa đàm về jazz và những hoạt động dành cho học sinh, sinh viên, nghệ sĩ trẻ.
Jam session là một khả năng khác.
"Các jam session cũng có thể trở thành hoạt động định kỳ tại Hà Nội".
Nếu được tổ chức đều đặn, theo tổng đạo diễn của Hà Nội Jazztival 2026, những buổi jam có thể tạo chỗ gặp nhau cho người chơi jazz, đồng thời mở thêm cơ hội giao lưu giữa nghệ sĩ Việt Nam với các nghệ sĩ quốc tế đang làm việc hoặc biểu diễn tại Việt Nam.
Điều đó đã có một hình dung ban đầu ngay trong mùa đầu tiên. Ở Jam Jazz Session chiều 18/9, những người chơi gặp nhau trong một không gian khác với một đêm diễn có chương trình được định sẵn. Với những người trẻ học nhạc có mặt ở đó, phần đáng chú ý không chỉ là xem một nghệ sĩ quốc tế biểu diễn mà còn là cách các nhạc công nghe nhau, vào cuộc và ứng biến.

Jam Jazz Session tạo không gian để các nghệ sĩ và những người trẻ cùng chơi, giao lưu và ngẫu hứng
Một hướng khác được nhạc sĩ Dương Cầm đề cập là những chương trình có quy mô nhỏ hơn tại nhà hát, câu lạc bộ, không gian văn hóa, khách sạn, nhà hàng hoặc các địa điểm đặc trưng của Hà Nội. Thay vì chỉ xuất hiện trong lịch thành phố ba ngày mỗi năm, festival có thể duy trì dấu vết bằng những hoạt động nhỏ hơn giữa hai mùa.
Đây hiện vẫn là những hướng phát triển, chưa phải một lịch hoạt động đã được xác lập. Nhưng khoảng thời gian giữa hai kỳ festival đã được đặt vào bài toán tổ chức.
Nhạc sĩ Dương Cầm còn đề cập khả năng kết nối jazz với kiến trúc, hội họa, nhiếp ảnh, điện ảnh, thời trang, ẩm thực và du lịch; cùng với đó là các nội dung số như trò chuyện âm nhạc, phim tư liệu, podcast, video hậu trường và nội dung giới thiệu jazz Việt Nam.
"Mục tiêu là để Hanoi Jazztival không chỉ là một sự kiện diễn ra trong ba ngày, mà trở thành một cộng đồng, một nền tảng sáng tạo và một chuỗi hoạt động văn hóa có sức sống liên tục trong năm" - anh cho hay.
Từ những hoạt động có thể duy trì giữa hai mùa đến một sản phẩm văn hóa thường niên vẫn còn một khoảng cách. Ở khoảng cách đó có những câu hỏi thực tế hơn: địa điểm, lịch tổ chức, công chúng và tiền để vận hành.
Từ festival đến sản phẩm văn hóa
Ngay từ kế hoạch tổ chức, Hanoi Jazztival đã được đặt trong một mục tiêu dài hơn mùa đầu tiên. Theo Ban tổ chức, liên hoan hướng tới trở thành sự kiện văn hóa - nghệ thuật quốc tế thường niên và "từng bước hình thành một sản phẩm âm nhạc quốc tế mang dấu ấn riêng của Hà Nội".
Nhưng tổ chức tiếp vào năm sau chưa đủ để tạo nên tính thường niên.
Từ góc độ nhà sản xuất, anh Thùy Dương cho rằng festival trước hết cần một kế hoạch ổn định hơn về hạ tầng và địa điểm, trong đó định hình được những sân khấu, điểm biểu diễn chính. Một yếu tố khác là thời gian tổ chức.
"Thời gian, ngày giờ phải cố định để truyền thông quảng bá, để các ban nhạc quốc tế biết thời điểm và xác nhận tham dự, cũng như tạo được thói quen mang tính 'điểm hẹn' dành cho công chúng".
Một "điểm hẹn", theo cách nhìn này, phải được ghi vào lịch của nhiều phía: người nghe biết lúc nào có thể trở lại, nghệ sĩ và ban nhạc quốc tế có thể tính vào lịch trình, còn người tổ chức có đủ thời gian cho truyền thông và chuẩn bị.
Nhà sản xuất âm nhạc Thùy Dương cho rằng Hà Nội có một lợi thế khi xây dựng điểm hẹn ấy. Jazz ở nhiều nơi trên thế giới không chỉ nằm trong nhà hát mà có đời sống ở câu lạc bộ, đường phố và những không gian công cộng. Trong khi đó, Hà Nội 36 phố phường, có các công trình kiến trúc, di sản và nhiều không gian văn hóa có thể tạo bối cảnh riêng cho festival.

Một sân khấu ngoài trời của Hanoi Jazztival 2026
Mùa đầu tiên đã thử một phần khả năng này. Jazz xuất hiện trong bảo tàng, khu phố cổ, câu lạc bộ, không gian ngoài trời; các hoạt động cũng không chỉ có biểu diễn mà gồm tọa đàm, triển lãm, masterclass và jam session.
Nhưng một format ổn định, theo anh Thùy Dương, cần làm rõ hơn những thành phần ấy và cách chúng kết nối với nhau. Người đã yêu jazz phải có thêm cơ hội gặp gỡ, còn người chưa biết jazz cần có những lối vào để tiếp cận.
"Jazz lại không phải một sản phẩm dễ bán cho số đông. So với pop và những dòng nhạc gần với thị hiếu phổ biến, jazz vẫn khá kén người nghe tại Việt Nam" - anh Dương thừa nhận và đặt ra câu hỏi của người làm sản xuất:
"Sản xuất gì cũng phải thấy rõ: mục tiêu là phục vụ cho ai?"
Với một festival jazz, một phía là công chúng - từ những người đã nghe jazz đến những người có thể trở thành người nghe mới. Phía khác là những người làm nghề, cần nơi biểu diễn, gặp gỡ và cọ xát với đồng nghiệp quốc tế.
Ở đây, công chúng không chỉ là con số xuất hiện trước sân khấu. Anh Thùy Dương cho rằng nếu festival có lịch ổn định và đủ sức hút, nó còn có thể kết nối với du lịch, thu hút người yêu jazz từ các địa phương khác và xa hơn là khán giả trong khu vực, quốc tế.
"Khi một người đến Hà Nội vì một festival, những gì họ sử dụng không dừng ở chương trình âm nhạc. Chỗ ở, ăn uống, đi lại và thời gian ở lại thành phố cũng nằm trong chuyến đi đó" - anh lý giải.
Đây cũng là điểm gặp nhau giữa hai người làm chương trình. Nhạc sĩ Dương Cầm nói đến một hệ sinh thái gồm dịch vụ, du lịch, ẩm thực, công nghệ, giao thông và trải nghiệm đô thị. Anh Thùy Dương nhìn vào khả năng đưa người nghe đến Hà Nội và thời gian họ ở lại thành phố.

Chương trình bế mạc Hanoi Jazztival 2026 diễn ra tại Nhà Bát Giác, Vườn hoa Lý Thái Tổ. Việc đưa jazz vào các không gian đặc trưng của Hà Nội là một trong những hướng được thử nghiệm trong mùa đầu tiên.
Công chúng và khả năng kết nối với những hoạt động khác cũng liên quan trực tiếp đến một bài toán khó hơn: nguồn lực nào sẽ duy trì festival.
Nhạc sĩ Dương Cầm cho rằng điều còn thiếu hiện nay là sự tham gia rộng hơn của doanh nghiệp và các đối tác xã hội. Một festival có yếu tố quốc tế, nếu muốn phát triển lâu dài, khó chỉ dựa vào nguồn lực của một đơn vị tổ chức hay riêng ngành văn hóa. Nguồn lực bổ sung có thể được đưa trở lại cho nghệ thuật, truyền thông, quy mô chương trình và trải nghiệm của người tham dự.
Nhà sản xuất Thùy Dương cũng cho rằng ngân sách Nhà nước có vai trò ở giai đoạn đầu, nhưng về lâu dài dự án phải tăng khả năng tự vận động bằng chính sản phẩm của mình. Anh dẫn kinh nghiệm từ các festival jazz quốc tế, nơi công chúng mua vé hằng năm và sự hiện diện của lượng khán giả đủ lớn tạo lý do để các thương hiệu tham gia.
Ở đây, anh Dương không muốn đặt doanh nghiệp vào vị trí đơn thuần là bên được tìm đến để xin tài trợ. Vì "một festival có công chúng và sức hút truyền thông cũng tạo ra giá trị cho doanh nghiệp khi họ muốn tiếp cận người tham dự và giới thiệu sản phẩm".
Nếu chỉ dừng ở cách tìm nguồn tài trợ cho từng mùa, mô hình đó khó bền vững là quan điểm của anh Dương. Điều anh hướng đến là một quan hệ mà cả festival và đối tác đều nhận được giá trị. Muốn vậy, trước hết sản phẩm phải có công chúng.
Bởi vậy, hơn 12.000 lượt tham dự trực tiếp của mùa đầu tiên là một dữ liệu đáng chú ý, nhưng chưa đủ để trả lời câu hỏi về thị trường. Ban tổ chức cũng công bố các nội dung truyền thông về festival tiếp cận hơn 2 triệu người trên Facebook; TikTok đạt hơn 200.000 lượt xem, trailer trên YouTube hơn 100.000 lượt xem, cùng hơn 7.000 lượt truy cập, tìm hiểu thông tin qua Google. Những con số về lượt tiếp cận và lượt xem cho biết mức độ hiện diện của sự kiện trên các nền tảng, nhưng không đồng nghĩa với số người sẽ tìm đến jazz sau festival hoặc quay lại ở mùa tiếp theo.
Mặt khác, câu chuyện xây dựng sản phẩm văn hóa cho Thủ đô nhìn từ jazz còn có một lớp khác: sản phẩm ấy mang dấu ấn gì của Hà Nội và Việt Nam.

Chương trình Jazz và Di sản trong chuỗi hoạt động của Hà Nội Jazztival 2026
Anh Thùy Dương nhìn hội nhập quốc tế theo hai chiều. Hanoi Jazztival đưa các nghệ sĩ, ban nhạc từ bên ngoài đến Hà Nội, nhưng cũng tạo thêm một không gian để nghệ sĩ Việt Nam giới thiệu những gì của mình. Anh nhắc đến những nhạc sĩ như Quyền Văn Minh, Quyền Thiện Đắc với những chất liệu âm nhạc dân tộc, vùng miền vào jazz.
Đây không phải việc bắt đầu từ Hanoi Jazztival. Những tìm kiếm ấy đã có trước festival và cũng là câu chuyện của nhiều thế hệ nghệ sĩ jazz Việt Nam. Nhưng khi được đặt trong một festival quốc tế, chúng có thêm một không gian để gặp những cách chơi và những người nghe khác.
Với nhà sản xuất, đó là một phần của hội nhập: tiếp nhận những tinh túy từ thế giới đồng thời tìm cách đưa giá trị văn hóa của mình ra ngoài.
Sau mùa đầu tiên, Hanoi Jazztival đã có ba ngày hoạt động, một lượng công chúng ban đầu và những hình thức đã được thử nghiệm ở nhiều không gian khác nhau. Ban tổ chức gọi đó là nền tảng để hướng tới một festival quốc tế thường niên.
Thực hiện: Diên Hạ
Báo: Thể thao và Văn hóa
