Từ quản lý thông tin đến quản trị hệ sinh thái niềm tin xã hội
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới xác định một chuyển dịch có ý nghĩa phương pháp luận: Từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội; đồng thời đặt công tác tư tưởng trong một chỉnh thể thống nhất giữa không gian thực và không gian số, giữa xây dựng chính sách, truyền thông, đối thoại, dữ liệu và tổ chức thực hiện. Trong môi trường truyền thông số ngày càng phân mảnh, có lẽ đã đến lúc cần nhìn công tác tư tưởng từ một góc rộng hơn: Quản trị cả hệ sinh thái tạo nên niềm tin xã hội.
Niềm tin là kết quả của cả một quá trình quản trị
Có một thay đổi rất lớn đang diễn ra trong đời sống thông tin. Trước đây, vấn đề thường được đặt ra là làm thế nào để đưa thông tin chính thống đến với người dân nhanh hơn, rộng hơn. Ngày nay, câu hỏi ấy vẫn quan trọng nhưng chưa đủ. Khi mỗi người đều có thể đồng thời là người tiếp nhận, người bình luận, người sản xuất và người phân phối thông tin; khi thuật toán quyết định nội dung nào được nhìn thấy trước; khi trí tuệ nhân tạo có thể tạo văn bản, hình ảnh, giọng nói và video với tốc độ rất lớn, thách thức không còn chỉ nằm ở số lượng thông tin mà ở khả năng giúp xã hội nhận biết điều gì đáng tin, hiểu đúng bản chất vấn đề và hình thành đồng thuận trên cơ sở sự thật.
Nghị quyết số 25-NQ/TW tiếp cận đúng vào điểm chuyển ấy khi xác định công tác tư tưởng phải “đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin”, đồng thời chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội. Cách tiếp cận này cho thấy niềm tin không phải sản phẩm của một bài viết hay một chiến dịch truyền thông. Niềm tin được hình thành qua cả một chuỗi trải nghiệm: Người dân được thông tin như thế nào; chính sách được giải thích ra sao; ý kiến khác biệt có được lắng nghe không; kiến nghị có được phản hồi không; điều đã cam kết có được thực hiện không.

Ảnh minh họa: VGP
Công tác tư tưởng trong bối cảnh mới vì thế phải gắn với chất lượng quản trị. Một chính sách tốt nhưng công bố chậm, giải thích khó hiểu hoặc thiếu đối thoại có thể tạo ra khoảng trống nhận thức. Ngược lại, truyền thông hay đến đâu cũng khó duy trì niềm tin nếu thực tiễn thực hiện không đáp ứng điều đã nói. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị (ngày 3-9-2026): “Không để bức xúc thực tế và khoảng trống thông tin làm xói mòn niềm tin”. Muốn bảo vệ niềm tin, vừa phải xử lý tốt vấn đề thực tế, vừa không được để khoảng trống thông tin tồn tại quá lâu.
“Khoảng trống thông tin” không chỉ là thiếu một thông cáo báo chí. Đó có thể là khoảng cách giữa ngôn ngữ chính sách và cách hiểu của người dân; giữa tốc độ xuất hiện của một vấn đề với tốc độ phản hồi của cơ quan có trách nhiệm; giữa điều người dân đang quan tâm với điều các chủ thể truyền thông đang nói. Trên mạng xã hội, những khoảng trống ấy thường được lấp rất nhanh bằng suy đoán, cảm xúc, thông tin nửa đúng nửa sai.
Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 25-NQ/TW là yêu cầu mỗi chủ trương, nghị quyết, chính sách lớn phải có phương án truyền thông theo từng nhóm đối tượng; truyền thông chính sách phải đi từ sớm, xuyên suốt quá trình hoạch định, thực thi và đánh giá; tâm tư, nguyện vọng, phản ánh chính đáng của nhân dân phải được tiếp nhận và phản hồi. Nghị quyết còn đặt mục tiêu hình thành mạng lưới 15.000-20.000 người có uy tín, người có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng và xây dựng nền tảng số dùng chung từ Trung ương tới cơ sở. Những yêu cầu đó cho thấy công tác tư tưởng đang được thiết kế theo logic của một hệ sinh thái, thay vì một tuyến truyền đạt thông tin.
Từ hệ sinh thái thông tin đến hệ sinh thái niềm tin xã hội
Nếu coi niềm tin là một nguồn lực của phát triển, chúng ta cần quản trị những điều kiện làm cho niềm tin được hình thành, được kiểm chứng và được bồi đắp. Có thể gọi chỉnh thể đó là “hệ sinh thái niềm tin xã hội”. Đây không phải khái niệm thay thế công tác tư tưởng hay truyền thông chính sách, mà là cách tiếp cận giúp thấy rõ mối liên hệ giữa nhiều chủ thể và nhiều tầng tác động đang vận hành đồng thời trong thời đại số.
Trong hệ sinh thái ấy, cơ quan Đảng, Nhà nước và báo chí chính thống có vai trò rất quan trọng, nhưng không còn là những chủ thể duy nhất tạo nên dòng chảy thông tin. Cùng tham gia còn có chuyên gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, giáo viên, doanh nghiệp, nền tảng số, người có ảnh hưởng, các cộng đồng trực tuyến và chính mỗi người dân. Một thông tin chính sách sau khi công bố có thể lập tức được giải thích lại trong video ngắn, được bình luận trong nhóm mạng xã hội, được chuyên gia phân tích, được thuật toán khuếch đại rồi tiếp tục bị cắt ghép và tái diễn giải. Quản trị hệ sinh thái niềm tin vì thế trước hết là nhận diện đầy đủ các chủ thể đang tham gia hình thành nhận thức xã hội.
Tiếp đó là quản trị vòng đời của thông tin. Một vấn đề lớn không nên chỉ có “thời điểm công bố”, mà cần một chu trình: Dự báo những vấn đề người dân có thể quan tâm; chuẩn bị dữ liệu và luận cứ; công bố; giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu; lắng nghe phản hồi; xử lý điểm chưa rõ; cập nhật khi chính sách thay đổi và công khai kết quả thực hiện. Nghị quyết số 25-NQ/TW đưa ra nguyên tắc “một vụ việc - một đầu mối phát ngôn - một bộ thông điệp thống nhất” trên cả không gian thực và không gian số. Điều này đặc biệt quan trọng trong khủng hoảng thông tin, khi sự chậm trễ hay thiếu thống nhất có thể tạo ra nhiều lớp diễn giải.
Quản trị hệ sinh thái niềm tin còn phải đi vào nền tảng và công nghệ. Không gian số không phải chiếc bảng tin điện tử trung tính. Cách thuật toán phân phối nội dung, cơ chế xác thực, tiêu chuẩn gắn nhãn nội dung do AI tạo ra và trách nhiệm của nền tảng đều tác động trực tiếp đến môi trường niềm tin. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy quản trị đang dịch chuyển từ xử lý nội dung ở “phần ngọn” sang cả quy trình tạo ra và phân phối nội dung. Chẳng hạn, Trung Quốc từ ngày 1-9-2025 áp dụng quy định yêu cầu nội dung do AI tạo sinh hoặc tổng hợp phải có nhãn nhận biết, gồm cả dấu hiệu hiển thị cho người dùng và thông tin kỹ thuật trong dữ liệu tệp. Điều đáng tham khảo là tư duy truy xuất nguồn gốc và phân định trách nhiệm trong chuỗi thông tin.
Nghị quyết số 25-NQ/TW cũng yêu cầu kết hợp điều tra xã hội học, nắm trực tiếp từ cơ sở với phân tích dữ liệu số, AI và dữ liệu lớn để dự báo, cảnh báo sớm. Nhưng công nghệ chỉ là công cụ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại hội nghị ngày 3-9 rằng công nghệ không thể thay thế bản lĩnh chính trị và năng lực đối thoại. Đằng sau một từ khóa tiêu cực có thể là một bức xúc thật; đằng sau một ý kiến khác biệt có thể là nhu cầu được giải thích. Quản trị niềm tin vì vậy không thể đồng nghĩa với kiểm soát mọi ý kiến, mà phải có khả năng phân biệt phản biện, băn khoăn, thông tin chưa đầy đủ với hành vi giả mạo hoặc thao túng; tạo không gian đối thoại để những vấn đề chính đáng được nói ra và được giải quyết.
Đo công tác tư tưởng bằng chuyển biến thực tế
Một thay đổi quan trọng khác mà Nghị quyết số 25-NQ/TW đặt ra là chuyển từ đánh giá hoạt động sang đánh giá kết quả. Chúng ta vốn quen đếm số hội nghị, số lớp tập huấn, số tin bài, số sản phẩm truyền thông hoặc lượt tiếp cận. Những chỉ số này vẫn cần, nhưng chưa nói hết hiệu quả.
Tại hội nghị ngày 3-9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay kết quả; công tác tư tưởng phải được đánh giá bằng khả năng phát hiện sớm, giải thích đúng, xử lý nhanh và củng cố niềm tin. Đây là gợi mở quan trọng cho cách xây dựng hệ thống chỉ số trong thời gian tới. Với một chủ trương lớn, có thể đo người dân đã tiếp cận thông tin chưa, hiểu đến đâu, còn băn khoăn điều gì, mức độ tin cậy với nguồn tin chính thống ra sao, vấn đề nào được phản hồi nhanh, kiến nghị nào đã được giải quyết và cuối cùng chính sách đã tạo ra thay đổi gì trong cuộc sống.
Nhìn theo cách đó, quản trị niềm tin không phải nhiệm vụ riêng của cơ quan tuyên giáo hay báo chí. Chất lượng phục vụ tại bộ phận hành chính công, thái độ của cán bộ ở cơ sở, tính minh bạch của quy trình, tốc độ giải quyết kiến nghị, khả năng sửa một quy định chưa phù hợp đều là những “thông điệp” có sức thuyết phục lớn. Trong thời đại số, thực tiễn quản trị cũng chính là một hình thức truyền thông.
Bởi vậy, việc Nghị quyết số 25-NQ/TW nhấn mạnh trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu, không “khoán trắng” công tác tư tưởng cho cơ quan chuyên trách có ý nghĩa rất cụ thể. Mỗi cấp, mỗi ngành cần coi truyền thông và đối thoại là một phần của quá trình xây dựng, thực thi chính sách; đồng thời coi phản hồi của xã hội là dữ liệu để hoàn thiện chính sách. Ở cấp cơ sở, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu 100% kiến nghị, phản ánh của nhân dân được tiếp nhận và trả lời trong thời hạn quy định. Nếu được thực hiện thực chất, đây không chỉ là chỉ tiêu hành chính mà còn là cơ chế bồi đắp niềm tin từ những tương tác hằng ngày.
Báo chí cách mạng trong hệ sinh thái ấy cần tiếp tục giữ vai trò nguồn xác nhận đáng tin cậy, nhưng cách làm phải thích ứng với môi trường số. Trong bài viết về báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số tháng 6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy”. Điều đó đặt ra yêu cầu không chỉ nhanh, mà phải kiểm chứng tốt hơn, giải thích sâu hơn, liên kết dữ liệu tốt hơn và giúp công chúng hiểu chính sách trong toàn bộ bối cảnh của nó.
Cũng cần nhìn người dân không chỉ như “đối tượng tuyên truyền” mà là chủ thể của hệ sinh thái. Nghị quyết số 25-NQ/TW yêu cầu phát huy vai trò của nhân dân trong tiếp nhận, chia sẻ, lan tỏa thông tin chính thống; đưa kỹ năng thông tin số và năng lực kiểm chứng thông tin vào giáo dục. Một xã hội có năng lực kiểm chứng tốt sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước tin giả và thao túng cảm xúc.
Quản trị hệ sinh thái niềm tin xã hội, do đó, không nhằm tạo ra một không gian chỉ có một chiều tiếng nói, mà hướng tới môi trường trong đó thông tin chính xác được cung cấp sớm, ý kiến chính đáng được lắng nghe, khác biệt được giải thích bằng lý lẽ, sai lệch được nhận diện bằng bằng chứng, công nghệ được sử dụng có trách nhiệm và chính sách được kiểm chứng bằng kết quả. Khi đó, phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả” của Nghị quyết số 25-NQ/TW mới có thể chuyển hóa thành năng lực quản trị hằng ngày.
Niềm tin khó hình thành nhưng rất dễ bị tổn thương, và trong xã hội số tốc độ tổn thương ấy càng nhanh. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là xử lý thông tin sai sau khi đã lan truyền, mà là kiến tạo một hệ sinh thái đủ minh bạch, đủ nhanh, đủ thuyết phục và đủ khả năng tự điều chỉnh để sự thật có điều kiện được nhận biết, những vấn đề chính đáng được giải quyết và người dân có cơ sở để tin. Xét đến cùng, quản trị hệ sinh thái niềm tin xã hội chính là làm cho công tác tư tưởng gắn chặt hơn với chất lượng chính sách, chất lượng thực thi và chất lượng quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân - để niềm tin không chỉ được kêu gọi mà được tạo dựng bằng những kết quả có thể kiểm chứng trong đời sống.
