Từng lãi trên sổ sách, vì sao đế chế đồ chơi LEGO suýt phá sản?
Ngay cả khi báo cáo tài chính vẫn ghi nhận lãi nhỏ và thương hiệu được ca tụng, doanh nghiệp vẫn có thể đang "chết mòn" vì cạn kiệt tiền mặt và năng lực quản trị yếu kém.
Nghịch lý này đã được ông Jørgen Vig Knudstorp, cựu CEO Tập đoàn LEGO, làm rõ tại Diễn đàn The Next Forum lần thứ 4, diễn ra ngày 15/10 tại TPHCM.
Bẫy tăng trưởng nóng
Dẫn trường hợp LEGO, ông Jørgen Vig Knudstorp nhắc lại cuộc khủng hoảng nghiêm trọng của hãng đồ chơi Đan Mạch vào năm 2003, trong bối cảnh doanh thu lao dốc và chiến lược tăng trưởng không đạt kỳ vọng.
Nghịch lý ở chỗ, suốt giai đoạn 1993-2003, hầu như năm nào doanh nghiệp cũng báo lãi nhỏ trên sổ sách, thậm chí 4 lần được bình chọn là doanh nghiệp được ngưỡng mộ nhất Đan Mạch.
Thế nhưng, khi đo lường giá trị kinh tế theo yêu cầu của gia đình sở hữu vào năm 2003 bằng cách đối chiếu tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư so với chi phí vốn, kết quả gây bất ngờ khi suốt 10 năm trước đó, gia đình sáng lập lẽ ra đã giàu thêm 1 triệu USD mỗi ngày nếu mang toàn bộ số tiền đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ phi rủi ro.
Cựu CEO LEGO chỉ ra, cuộc khủng hoảng năm 2003 thực chất đã manh nha từ năm 1993. Sau 10 năm trượt dài, dù có tác động từ số hóa hay toàn cầu hóa, nguyên nhân cốt tử vẫn xuất phát từ các quyết định nội bộ sai lầm và sự thiếu vắng quy trình thực thi chuẩn mực.

Ông Jørgen Vig Knudstorp, cựu CEO Tập đoàn LEGO. Ảnh: Kỳ Hoa
Từng tìm cách đổ lỗi cho đồng USD mất giá hay sự cạnh tranh từ phim ảnh, ông Knudstorp thừa nhận bước ngoặt chỉ đến khi ngồi với một vị cố vấn thông thái và nhận ra rằng: "Thực ra tất cả chỉ là do quản trị yếu kém".
Nhận thức được cốt lõi vấn đề, ưu tiên hàng đầu của ban lãnh đạo khi vực dậy LEGO là ổn định kinh doanh, tất toán các khoản nợ và tập trung tạo ra dòng tiền thực thay vì chạy theo lợi nhuận sổ sách. Sau 2 năm xoay chuyển tình thế để sinh tồn và 3 năm củng cố sản phẩm cốt lõi, tập đoàn mới bước vào chu kỳ tăng trưởng tự thân.
Theo ông Knudstorp, nền móng của sự hồi sinh bắt đầu từ việc dám nhận lỗi, chuyển từ tư duy "đó là lỗi của người khác" sang thừa nhận "chính chúng ta đã làm chưa tốt", đồng thời nhấn mạnh bài học trong kinh doanh, đừng vội vã tăng trưởng nóng.
Dòng tiền là thước đo sinh tử của doanh nghiệp
Đồng quan điểm, ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch HĐQT kiêm CEO Công ty CP Đầu tư U&I, nhận định tăng trưởng nhanh không đồng nghĩa với doanh nghiệp khỏe mạnh. Dấu hiệu quan trọng nhất cần theo dõi sát sao chính là chất lượng dòng tiền.
Theo ông Tín, doanh nghiệp có thể bán được lượng hàng rất lớn, nhưng nếu dòng tiền không ổn định thì không thể duy trì tốc độ phát triển. Dòng tiền thiếu ổn định có thể gây khó khăn cho việc quản trị nhân sự, đồng thời khiến doanh nghiệp khó duy trì niềm tin của tổ chức tín dụng và đối tác cung ứng. Nhiều doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh thường rơi vào thế bị động, thiếu nguồn lực dự phòng khi thị trường xuất hiện biến cố.
Khẳng định vai trò của dòng tiền trong đánh giá sức khỏe doanh nghiệp, ông Tín lưu ý thay vì chạy theo tốc độ, doanh nghiệp nên hướng tới sự phát triển ổn định và tạo ra giá trị gia tăng liên tục.
Bên cạnh quản trị nội bộ, ông Tín đề cập đến vai trò của cộng đồng doanh nghiệp trong tiến trình cải cách thể chế. Theo ông, doanh nghiệp cần chủ động đóng góp ý kiến xây dựng chính sách nhằm cải thiện tính minh bạch và hiệu quả của môi trường kinh doanh.

Ông Nguyễn Bá Diệp, đồng sáng lập MoMo. Ảnh: Kỳ Hoa
Đồng thời, Việt Nam không nhất thiết phải tự sáng tạo mọi công nghệ, thay vào đó việc tiếp thu, hợp tác và đưa các thành tựu sẵn có vào ứng dụng thực tế cũng là chìa khóa mở ra động lực phát triển mới.
Ở góc độ doanh nghiệp công nghệ, ông Nguyễn Bá Diệp, Đồng sáng lập kiêm Phó Chủ tịch cấp cao của MoMo, cho rằng mấu chốt của bài toán tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe vận hành nằm ở tư duy thực thi.
Theo ông Diệp, MoMo vận dụng một phương pháp quản trị gồm các bước: chất vấn những yêu cầu hiện có, loại bỏ phần không cần thiết, đơn giản hóa quy trình, tối ưu hóa hoạt động và cuối cùng mới tính đến tự động hóa.
Ông Diệp lưu ý, doanh nghiệp cần loại bỏ những khâu không tạo ra giá trị, tinh gọn quy trình trước khi đầu tư công nghệ và tự động hóa. Cách làm này giúp tránh đưa nguồn lực vào những quy trình vốn đã phức tạp hoặc thiếu hợp lý.


