Về miền Kinh Bắc

'Kinh Bắc là ở đâu'? 'Hiểu nôm na là Bắc Giang và Bắc Ninh gộp lại, giờ gọi là tỉnh Bắc Ninh đó'. 'Ở chỗ có hát quan họ và vải thiều đó à, có sông Thương, sông Cầu và Tây Yên Tử nữa hả ?'. 'Chính xác. Nhưng còn có rất nhiều thứ nữa nhé, xuân này về chơi khắc biết'. 'Vậy à, nhất định về'...

Người bạn nước ngoài của tôi nhắn hỏi đủ thứ, trong đó có đoạn về Kinh Bắc như thế. Vốn tiếng Anh bập bõm của tôi phải nhờ thêm Google mới giải thích cặn kẽ cho bạn vài thứ. Bạn vẫn ao ước được trực tiếp nghe hát quan họ ở sân đình một lần, được leo lên dãy núi xem nơi đó thế nào mà một hoàng đế quyết tâm từ bỏ ngai vàng và cung điện xa hoa để đi tu. Vâng, mùa xuân bạn về nhé. Khắp vùng Kinh Bắc với núi đồi, làng mạc, phố phường tiếp nối, dặt dìu hàng nghìn lễ hội vui xuân chắc sẽ làm bạn hài lòng. Những cảnh đẹp khi cổ kính rêu phong, khi hoang sơ, lúc hiện đại có mặt ở nhiều nơi cùng món ăn ngon và tình cảm nồng hậu của con người sẽ kể cho bạn những câu chuyện đặc sắc về đời sống hiện thực bây giờ. Bắc Ninh có lẽ là địa phương đặc biệt nhất khi có 8 di sản được UNESCO ghi danh.

 Minh họa: Hà Huy Chương.

Minh họa: Hà Huy Chương.

Hôm ấy, dẫn mấy chị bạn đi chơi chụp ảnh hoa cúc họa mi ở phim trường Đa Mai (thuộc phường Đa Mai), đứng dưới mái lầu trăng (cái lầu bằng gỗ dựng để khách chụp ảnh), nhìn bát ngát hoa, tôi bỗng nhớ những câu thơ này của cụ Nguyễn Gia Thiều: Nào lối dạo vườn hoa năm ngoái/ Đóa hồng đào hái buổi còn xanh/ Trên gác phượng, dưới lầu oanh/ Gối du tiên hãy rành rành song song… (Cung oán ngâm khúc). Đọc mấy câu thơ, hình dung về một gia đình “Danh gia vọng tộc” ở làng Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành (cũ) - nơi sinh ra Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều. Nhìn mấy cánh chim bay vội trên mái lầu như thấy cảnh hoàng cung với vườn thượng uyển trăm hồng nghìn tía, có các nàng cung nữ thướt tha. Tôi nói lại ý nghĩ của mình, chị Hường - cô giáo dạy Văn nhà gần thành cổ Luy Lâu mời sang tuần về đó chơi. Nhất định vậy, trong sử sách chép Nguyễn Gia Thiều có sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học. Ông còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Tôi muốn về để đắm mình trong hương đất cổ, hấp thụ chút năng lượng của một vùng văn hiến đã sinh ra và nuôi dưỡng tiền nhân. “Bây giờ sáng đi Sơn Động ngắm núi, tối về ngủ dưới Luy Lâu, dạo dưới bóng thành xưa thoải mái, cảm giác những địa danh gần hơn xưa thì phải” - chị Hường vui vẻ bày tỏ. Tôi cũng cảm thấy thế. Dạo còn chưa sáp nhập tỉnh, nếu nói đi làng Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng chơi là phải sắp xếp cả tuần, bởi tâm lý đi tỉnh khác, tự thấy nó xa xôi, ngần ngại nhưng bây giờ thấy khác, vẫn trong tỉnh, đi ù cái lại về. Có hôm cơm trưa ở phường Bắc Giang (thuộc thành phố Bắc Giang cũ) xong chúng tôi mới lại rủ nhau về Phù Lãng chơi, đến Gốm Tâm chọn mấy món đồ mình thích rồi về. Trên đường về nhất định phải vào thành phố Bắc Ninh cũ ăn cháo cá rồi đứng ngó mấy ngọn đèn sáng trưng chỗ ngã 6 cạnh Vincom.

Ngoài thời gian đi làm ở cơ quan, tôi đóng vai “buôn thúng bán mẹt”, tối tối tranh thủ làm trà gạo lứt, làm chè lam thủ công để bán cho những ai thích hoài cổ. Tôi có một vị khách hàng dưới làng gần đền Đô. Bà bảo, cổng đền Đô bán trăm thứ quà bánh, chè lam đủ vị cho khách mua vào làm lễ nhưng bà lại thích vị chè lam “chân quê” nhà tôi. “Ăn vào tôi như được gặp u mình, ngày còn sống u tôi cũng nấu đúng cái vị này”. Có một anh khách hàng làm doanh nhân trong Sài Gòn cũng từng nói thế, ăn để nhớ mẹ mình. Vậy thì chỉ cái món ăn dân dã nhà quê đã xóa nhòa ranh giới xa gần, ở địa danh nào chẳng còn quan trọng nữa, cần gì ở nhau thì vẫn gặp được nhau đó thôi. Người Bắc Ninh bây giờ, ở trên An Châu hay Khe Rỗ cần gì ở mãi chợ Chờ Yên Phong hay phố Lim Từ Sơn thì cũng là đơn giản. Xe ô tô chạy theo chuyến suốt ngày đêm. Lễ hội trái cây năm nay là minh chứng cho sự hòa nhập lòng người. Đoàn người đợi xe buýt đón đưa miễn phí ở cổng Thư viện Bắc Ninh 2 (thành phố Bắc Ninh cũ) lên phường Chũ dự lễ hội luôn đông đúc. Có người lần đầu được ngắm trái cây trưng bày đẹp mắt tại lễ hội, được vào tận vườn bưởi, vườn cam chín vàng chụp ảnh về đã thốt lên “quá là đẹp, không ngờ ngay tỉnh mình thôi đẹp thế này, cần gì phải ao ước đi tận miệt vườn ở đâu nữa”. “Tự dưng mà bảo tôi đi ra khỏi nhà lên tận Chũ chơi thì ngại lắm nhưng khi sáp nhập tỉnh, nhờ có những sự kiện văn hóa thế này, người dân được quan tâm, đưa đón thì chúng tôi thấy rất tuyệt vời. Đúng là bạt ngàn bưởi cô ạ, Lục Ngạn trù phú giàu có lắm. Đến tận nơi mới biết, ở nhà không thể hình dung ra đâu” - bà lão Tứ, 75 tuổi, nhà ở phố Suối Hoa chia sẻ.

Bạn hãy thử đứng ở vườn sâm Nam của người dân quê tôi dưới chân núi Dành vào một ban mai nào đó mà xem nhé. Nên đến vào mùa hoa, lúc cuối thu hoặc cuối xuân, đầu hạ. Cả một vùng trắng ngà bát ngát hoa. Mùi thơm chỉ thoảng nhẹ và tinh khiết như nắng mới chứ không rõ ràng, sực nức. Lá sâm xanh sẫm, hoa càng nổi bật. Hoa sâm hái về phơi khô, sao vàng làm trà uống thì hảo hạng. Trị mất ngủ, xoa dịu tinh thần, dưỡng mắt, dưỡng da... Bây giờ người ta còn ăn hoa tươi và búp non bằng cách xào lên hay nhúng lẩu. Chị Nguyễn Dung, chị dâu tôi, Giám đốc Hợp tác xã Sâm Liên Chung còn nuôi cả một trang trại gà cho ăn lá sâm, uống nước củ sâm để có gà thành phẩm thịt thơm ngon bổ dưỡng bất ngờ. Hằng năm, chị và các chủ vườn sâm đi hội thảo, hội nghị xúc tiến thương mại, hội chợ quảng bá sản phẩm rất nhiều lần. Chị chia sẻ, dân quê mình (xã Liên Chung cũ, nay thuộc xã Phúc Hòa) nhiều gia đình giàu có nhờ cây sâm, mỗi năm thu về từ một, hai tỷ đến chục tỷ đồng. Không chỉ bán giống cây, trà hoa, củ sâm tươi, khô, Hợp tác xã và một vài doanh nghiệp khác có thêm các mặt hàng trà túi lọc, dầu gội đầu sâm, miến sâm (có thành phần sâm trong bột làm miến), rượu sâm...

Từ nông dân, nhiều người thành chủ doanh nghiệp, thành người sản xuất hàng hóa. Đời sống nông thôn đổi thay. Ngắm vùng sâm, ngắm núi Dành, tôi chỉ mong, chính quyền và những người làm sâm đừng lấn núi trồng sâm, hãy trồng sâm dưới chân núi và các vùng đồi xa núi thôi. Còn núi, phải có cây xanh, có rừng để giữ đất, chống xói mòn, sạt lở. Núi chỉ còn là núi khi có cây lâu năm bao bọc, những quả đồi lớn quanh núi cũng nên có cây. Có như vậy núi Dành mới trở thành khu sinh thái lâu bền. Sâm rất quý nhưng cây sâm khó mà giữ đất lúc bão tố, xói lở. Giàu có mà đời sống bình yên mới là đích đến. Nhìn hoa sâm tôi nghĩ đến một loài sen quý dưới Gia Bình. Đó là sen nhị sắc. Bông sen đồng thời nở ra hai màu hồng tía và trắng rất đẹp. Có lẽ cần nhân giống, bảo tồn loài sen này. Nhìn cây nhớ đất, vậy hai vùng quê Phúc Hòa với Gia Bình là bao xa? Chỉ một dặm đi trong ngày chứ mấy.

Những địa danh xưa kia là "tỉnh khác", nay chung một quê gần gũi, thân thương xiết bao. Lúc ngồi trò chuyện với sư bà chùa Tiêu (phường Tam Sơn), tôi lại nhớ ngôi chùa Cống Phường mộc mạc quê mình. Sư bà chùa Tiêu trồng rau cấy lúa suốt bao năm tự nuôi sống mình, sau này phật tử có cúng dường rau và gạo. Sư bảo, nhà sư không nên có tiền, vì có tiền sẽ nảy sinh lòng tham, khó giữ được thân, khó giữ chùa. Vì thế mà trong chùa Tiêu không có một chiếc hòm công đức nào, trên các ban thờ không có tờ tiền nào. Chùa Cống Phường quê tôi còn gọi là chùa Không Bụt vì chùa không có tượng Phật (Bụt). Dân gian dựng chùa, xây bảy bậc cầu thang quét vôi trắng và đặt bát hương lên đó. Người đến chùa tự ý thức trong tâm có Phật nên dù không có hình tướng nào cụ thể về Phật thì trên những ngai, bục kia Phật tọa đó, biết hết chuyện thế gian.

Lạ lùng thay, khi đứng dựa lưng vào tường chình trên bản Bắc Hoa (xã Tân Sơn), nghe mưa chảy qua mái ngói âm dương bạc màu thời gian, tôi lại thèm chạy ra rửa mặt mình, bởi nhớ thứ nước múc bằng gàu từ giếng làng Diềm quan họ. Mạch nguồn quê hương đâu đó âm ỉ dẫn lối cho con người tìm về ký ức, sống cho hiện tại và hành động cho ngày mai. Mùa xuân xem ném còn trên bản vùng rẻo cao Sơn Động hẳn lại mơ ngồi trên thuyền lãng du qua các làng quan họ ven sông Cầu...

Có phải tên đất, tên người, những vẻ đẹp giản dị nhưng bất tử của đời sống đã hòa quyện vào nhau, nâng đỡ, bổ trợ, làm đẹp nhau lên. Mỗi làng bản, mỗi khu phố đều có phong tục, sản vật riêng độc đáo, điều đó tạo nên văn hóa Kinh Bắc - Bắc Ninh phong phú và đặc sắc. Quan họ, ca trù, hát ống - hát ví, sắng cộ, soọng cô, sloong hao... đều cùng cất lên trên khắp các làng quê, nơi có nhiều tộc người anh em sinh sống. Tôi thức một đêm trải nghiệm hát ống bên đình làng với các nghệ nhân xóm Hậu (xã Liên Chung cũ) để cắt nghĩa tại sao đôi trai gái thời phong kiến phải hát vào ống tre để giao duyên thì quan họ kia, hát bọn thâu đêm, tình người quan họ thắm thiết, da diết, không thể rời xa mà lại không dễ gì kết đôi loan phượng...

Những thứ tưởng không cầm nắm được ấy chính là linh hồn miền Kinh Bắc. Mùa xuân nơi này luôn dài hơn, đẹp đẽ và sâu lắng hơn. Đi chùa, đi lễ hội, đi nghe hát, đi ngắm núi non, thăm vườn cây trái, đi trải nghiệm làm công nhân khu công nghiệp…, dù bạn đi đâu thì bốn phía, đất trời và con người của xứ sở này đều căng ngời sức sống.

Tùy bút của Nguyễn Thị Mai Phương

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/ve-mien-kinh-bac-postid436337.bbg