Vị giáo sư đầu ngành về hồi sức tích cực luôn nhận mình là bác sĩ 'hai lúa'
Hơn 40 năm gắn bó nghề y, Giáo sư Nguyễn Gia Bình góp phần giành lại sự sống cho hàng nghìn bệnh nhân nguy kịch. Thế nhưng, ông chỉ khiêm nhường nhận mình là bác sĩ “hai lúa”.
Tâm niệm luôn làm việc cần cù, giản dị
GS.TS Nguyễn Gia Bình, Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam - nguyên Trưởng khoa Hồi sức tích cực - Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) vẫn tự nhận mình là một “bác sĩ hai lúa”.
“Tôi chẳng có đam mê hay y đức gì to tát đâu, đừng đưa mấy từ ấy vào, tôi sợ lắm! Tôi chỉ tự nhận mình là một ‘bác sĩ hai lúa’, lọ mọ bên giường bệnh, thấy cái gì có lợi cho người bệnh thì quyết làm cho bằng được”, Giáo sư Bình chia sẻ.
Con đường làm nghề của ông bắt đầu từ ký ức tuổi thơ, khi chứng kiến mẹ mắc sốt thương hàn, nằm mê sảng trên chiếc võng buộc vào cọc tre.
Khi làm công tác quân y tại Đội điều trị 36 ở vùng biên giới Cao Bằng, ông được mài dũa ở môi trường rừng núi thiếu thốn thuốc men, xét nghiệm và trang thiết bị, các ca mổ phải sử dụng máy phát điện đạp chân, thuốc mê chỉ có thể dùng ngắt quãng. Ông học cách chẩn đoán bằng đôi tay, chiếc ống nghe và sự quan sát tỉ mỉ.

Giáo sư Nguyễn Gia Bình: Ảnh: BVCC.
Có lần, ông gặp một em bé mắc bạch hầu cấp tính, khó thở. Trước tình trạng nguy kịch của bệnh nhi, ông đau xót, bất lực khi quãng đường rừng hàng trăm cây số khiến việc chuyển viện không thể thực hiện kịp thời.
Về sau, ông hỏi thầy giáo mình về trường hợp ấy. Người thầy gợi mở: “Sao không rạch khí quản ra, nhét cái ống đu đủ vào cho bệnh nhân thở đã?”.
Bài học lâm sàng khắc nghiệt đó giúp ông thấm thía một điều: Y học không chỉ nằm trong lý thuyết mà còn là hành trình tìm mọi cách để giữ lấy hơi thở, sự sống cho con người.
Năm 1983, rời quân ngũ, ông trở về công tác tại Bệnh viện Bạch Mai. Những năm khó khăn, Khoa Cấp cứu chỉ có vài chiếc ống nghe cũ, tiền trực ít ỏi. Trong hoàn cảnh ấy, ông miệt mài học hỏi các bậc tiền bối, đặc biệt là cách thăm khám lâm sàng để nhận biết bệnh qua những dấu hiệu nhỏ nhất.
Khi còn điều chưa rõ, ông trực tiếp tìm hiểu, theo dõi người bệnh. Với ông, họ không chỉ là đối tượng điều trị mà còn là “những người bạn, những người thầy”.
“Dù công nghệ y khoa có phát triển đến đâu thì con người cũng không phải là máy móc. Bác sĩ phải là người bạn đồng hành, biết lắng nghe, thấu hiểu đau đớn, nỗi lo âu, sợ hãi của một thân phận”, ông nói.
Sáng kiến ra đời từ nơi thiếu thốn
Năm 1987, khi sang Campuchia, ông gặp nhiều bệnh nhân sốt rét nặng, suy thận cấp cần lọc máu. Cơ sở y tế không có máy chạy thận, dung dịch lọc màng bụng chuyên dụng cũng không sẵn có.
Không thể chờ đợi nguồn cung từ bên ngoài, ông cùng cố Giáo sư Vũ Văn Đính tìm cách pha chế dịch lọc từ những dung dịch truyền thông thường. Bạn bè Campuchia giúp tìm mua từng túi natri clorid, bicarbonat, glucose ngoài chợ. Các phản ứng kết tủa được kiểm tra cẩn trọng trước khi tiến hành kỹ thuật lọc màng bụng.
Quá trình trên kéo dài suốt một tuần. Đến ngày thứ bảy, khi dòng nước tiểu sẫm màu đầu tiên xuất hiện, người bệnh dần tỉnh lại. Hai thầy trò vỡ òa vui mừng.
Từ hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, phương pháp lọc màng bụng bằng dung dịch tiêm truyền thông thường ra đời, sau đó tiếp tục được vận dụng để điều trị bệnh nhân sốt rét ác tính có suy thận cấp tại miền Trung và Tây Nguyên.

GS.TS Nguyễn Gia Bình trao đổi với GS Amato về Kỹ thuật thở máy cao tần (HFO). Ảnh: BVBM.
Năm 1992, sau thời gian tu nghiệp tại Pháp, ông đứng trước cơ hội làm việc cho các hãng dược phẩm nước ngoài với mức lương cao gấp hàng chục lần thu nhập khi ấy. Nhưng ông quyết định trở về. “Mình đi học, mình phải làm được cái gì đó cho người bệnh nước mình”, ông tâm niệm.
Trăn trở trước những ca sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng có nguy cơ tử vong cao, ông cùng đồng nghiệp tìm cách đưa kỹ thuật lọc máu liên tục vào điều trị tại Việt Nam. Dù chi phí máy móc và dịch lọc đắt đỏ, ông kiên trì vận động các nguồn tài trợ để có thiết bị, mở thêm cơ hội sống cho người bệnh nguy kịch.
Từ những bước đi ban đầu, nhiều kỹ thuật lọc máu hiện đại, lọc máu hấp phụ, thay huyết tương và phối hợp các phương pháp trong điều trị suy gan cấp, ngộ độc cấp tiếp tục được triển khai.
Công trình nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật lọc máu hiện đại trong hồi sức cấp cứu do ông chủ nhiệm được trao Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2017. Theo số liệu được nêu trong công trình, tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn giảm từ 60% xuống 40%, suy đa tạng từ 80% xuống 50% và viêm tụy cấp nặng từ 50% xuống 10%.

Giáo sư Nguyễn Gia Bình thăm khám cho bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Mộc Châu (Sơn La). Ảnh: P.Thúy.
Trong hồi sức tích cực, nơi diễn biến bệnh có thể thay đổi từng phút, GS Bình luôn đề cao sự quyết đoán và tuân thủ chuyên môn.
Ám ảnh trước những trường hợp tử vong do phản vệ, ông cùng các cộng sự nghiên cứu, tìm cách chuẩn hóa quy trình nhận diện và xử trí cấp cứu. Những đóng góp này góp phần nâng cao năng lực xử trí phản vệ tại các cơ sở y tế.
Dù đã rời vị trí quản lý, vị giáo sư Nguyễn Gia Bình vẫn dành nhiều tâm huyết cho chuyên môn. Thấy bác sĩ trẻ đôi khi quá chú trọng giấy tờ hay thao tác trên màn hình mà chưa dành đủ thời gian thăm khám trực tiếp, ông lại nhắc nhở.
“Bác sĩ mà không dành thời gian nghe nhịp tim, không nhìn vào mắt người bệnh, không cảm nhận được ngón tay họ đang lạnh hay ấm thì làm sao làm hồi sức được?”, ông băn khoăn.
Với Giáo sư Nguyễn Gia Bình, công nghệ là công cụ quan trọng nhưng không thể thay thế sự quan sát, cảm nhận và trách nhiệm của người thầy thuốc. Đằng sau mỗi chỉ số trên màn hình là một con người đang đau đớn, lo âu; phía sau mỗi ca bệnh là một gia đình mong chờ tin tốt lành.

