Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Từ ngày 15/10/2026, người vi phạm pháp luật về đất đai trong một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự, giảm hình phạt hoặc rút ngắn thời hạn xóa án tích theo hướng dẫn mới của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Ảnh minh họa Tòa án nhân dân tối cao.

Ảnh minh họa Tòa án nhân dân tối cao.

Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Từ ngày 15/10/2026, người vi phạm pháp luật về đất đai trong một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự, giảm hình phạt hoặc rút ngắn thời hạn xóa án tích theo hướng dẫn mới của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP ngày 18/8/2026, hướng dẫn áp dụng một số quy định về cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết, xét xử vi phạm pháp luật về đất đai.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Theo quy định mới, Tòa án có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, giảm hình phạt và rút ngắn thời hạn xóa án tích đối với những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật.

Tuy nhiên, việc áp dụng các cơ chế này không mang tính tự động mà phải căn cứ vào tính chất vụ việc, hậu quả thiệt hại, mức độ khắc phục và những điều kiện cụ thể được quy định trong các nghị quyết.

Những trường hợp được xem xét miễn trách nhiệm hình sự

Điều 3 Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP quy định, tại phiên tòa, nếu xét thấy bị cáo có đủ căn cứ theo Điều 5 và Điều 7 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Hội đồng xét xử xem xét, quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Để quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo thuộc trường hợp được quy định tại Điều 5 và Điều 7 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Tòa án phải căn cứ vào các văn bản, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền.

Trong đó, các tài liệu phải xác định được vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không có hành vi tham nhũng xảy ra trước ngày 1/8/2024.

Cơ quan có thẩm quyền cũng phải xác định hành vi vi phạm có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước hay không. Nếu có thiệt hại, cơ quan chức năng phải xác định cụ thể hậu quả.

Trường hợp có sự mâu thuẫn hoặc chưa rõ trong việc xác định hậu quả thiệt hại giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án căn cứ vào kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu định giá tài sản nếu thấy cần thiết.

Ngoài ra, hồ sơ phải có tài liệu xác định mục đích của dự án, công trình, hiệu quả kinh tế, xã hội đối với địa phương, đất nước, mức độ khắc phục hậu quả thiệt hại và tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan.

Đối với các trường hợp có khiếu nại, tố cáo, Nghị quyết yêu cầu phải có tài liệu chứng minh vụ việc đã được giải quyết dứt điểm hoặc nội dung khiếu nại, tố cáo không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong giai đoạn xét xử, nếu Tòa án tiếp nhận tài liệu, chứng cứ mới chứng minh bị can, bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16, Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ cho Viện kiểm sát xem xét theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Có thể hoãn phiên tòa tối đa 30 ngày để khắc phục hậu quả

Một trong những nội dung của Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP là cơ chế xử lý đối với trường hợp người vi phạm chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại nhưng vẫn có khả năng thực hiện.

Theo Điều 5, khi bị can, bị cáo có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Tòa án có thể xem xét tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc hoãn phiên tòa, tùy thuộc vào giai đoạn xét xử.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Tại phiên tòa, căn cứ vào khả năng khắc phục hậu quả và đề nghị của bị cáo, Hội đồng xét xử có thể quyết định hoãn phiên tòa trong thời hạn không quá 30 ngày nếu có căn cứ xác định bị cáo hoặc tổ chức, cá nhân liên quan có thể khắc phục hậu quả thiệt hại trong thời gian này.

Nếu xét thấy không có khả năng khắc phục hậu quả trong thời hạn 30 ngày, Hội đồng xét xử có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo.

Để xem xét việc tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa, Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng minh khả năng khắc phục hậu quả, phương án thực hiện và những nguyên nhân khách quan khiến việc khắc phục chưa hoàn thành.

Bị can, bị cáo hoặc tổ chức, cá nhân liên quan phải có bản giải trình về nguyên nhân chưa khắc phục được hậu quả. Trường hợp cam kết tiếp tục khắc phục, hồ sơ phải kèm theo tài liệu chứng minh khả năng tài chính, phương án, lộ trình và thời hạn hoàn thành.

Nếu trong thời gian tạm đình chỉ hoặc hoãn phiên tòa, bị can, bị cáo và các bên liên quan khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.

Ngược lại, nếu hết thời hạn tạm đình chỉ mà hậu quả thiệt hại chưa được khắc phục toàn bộ, Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án và tiếp tục giải quyết, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với trường hợp hết thời hạn hoãn phiên tòa nhưng chưa khắc phục được toàn bộ hậu quả, Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ vụ án nếu có căn cứ xác định người vi phạm vẫn có khả năng tiếp tục khắc phục.

Khắc phục một phần thiệt hại có thể được giảm hình phạt

Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP quy định cụ thể mức giảm hình phạt tương ứng với tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại.

Theo khoản 5 Điều 5, trường hợp bị cáo hoặc tổ chức, cá nhân liên quan không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại, Tòa án căn cứ vào hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án đối với địa phương, đất nước và mức độ khắc phục để xem xét giảm hình phạt.

Cụ thể, người đã khắc phục đến một phần tư hậu quả thiệt hại có thể được giảm tối đa một phần tư mức hình phạt. Nếu khắc phục trên một phần tư đến một phần hai hậu quả thiệt hại, mức giảm tối đa là một phần hai hình phạt.

Trường hợp khắc phục trên một phần hai đến ba phần tư hậu quả thiệt hại, mức giảm tối đa có thể lên đến hai phần ba hình phạt. Nếu đã khắc phục trên ba phần tư nhưng chưa khắc phục toàn bộ hậu quả, mức giảm tối đa có thể lên đến bốn phần năm hình phạt.

Quy định này cũng được áp dụng khi xem xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án đáp ứng điều kiện tương ứng.

Riêng người bị kết án đã khắc phục một phần hậu quả thiệt hại mà có lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, mức giảm hình phạt đã tuyên có thể cao hơn theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 6.

Trong đó, người khắc phục đến một phần tư hậu quả thiệt hại có thể được giảm tối đa một phần ba mức hình phạt đã tuyên. Nếu khắc phục trên một phần tư đến một phần hai, mức giảm tối đa là hai phần ba.

Người khắc phục trên một phần hai đến ba phần tư hậu quả thiệt hại có thể được giảm tối đa ba phần tư mức hình phạt đã tuyên. Trường hợp khắc phục trên ba phần tư nhưng chưa khắc phục toàn bộ, mức giảm tối đa là chín phần mười hình phạt đã tuyên.

Nghị quyết cũng quy định người đang chấp hành hình phạt tù, có đủ điều kiện theo khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16 nhưng không có điều kiện khắc phục hậu quả thiệt hại, có thể được Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù tối đa không quá một phần tư mức hình phạt đã tuyên. Việc xem xét còn căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và các tình tiết khác.

Người có khả năng, điều kiện khắc phục hậu quả nhưng không thực hiện sẽ không được xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo cơ chế này.

Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Người đang chấp hành án tù có thể được miễn phần hình phạt còn lại

Điều 6 Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn việc hoãn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên và tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Theo đó, người đã có bản án nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đang chấp hành hình phạt tù, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16, có thể được cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp tương ứng.

Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm xem xét, quyết định hoãn chấp hành hình phạt. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực hoặc Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Đối với người đã được hoãn chấp hành hình phạt, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù hoặc đang chấp hành hình phạt, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 29/2026/QH16, Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu có thể xem xét, quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Việc xem xét phải dựa trên tài liệu, chứng cứ về khả năng khắc phục hậu quả và các điều kiện pháp luật có liên quan. Trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự.

Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Vi phạm đất đai có thể được miễn trách nhiệm hình sự từ 15/10

Rút ngắn một nửa thời hạn để được xóa án tích

Một nội dung khác của Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP là hướng dẫn giảm thời hạn để được xóa án tích đối với người bị kết án thuộc các trường hợp quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16.

Theo Điều 7, người đã chấp hành xong bản án và thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 hoặc khoản 6 Điều 9 Nghị quyết số 29/2026/QH16 có thể được Tòa án xem xét, quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.

Mức giảm là một phần hai thời hạn tương ứng với thời hạn đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Để được xem xét, người bị kết án phải gửi đơn đề nghị và các tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được áp dụng chính sách đến Tòa án đã ra quyết định thi hành án.

Quy định này tạo cơ sở pháp lý để người đã chấp hành xong bản án, đáp ứng các điều kiện luật định, có thể được rút ngắn thời gian chờ xóa án tích.

Mặc dù quy định mới mở ra cơ chế xử lý đối với một số vi phạm pháp luật về đất đai, phạm vi áp dụng vẫn được giới hạn theo từng hành vi và từng đối tượng cụ thể.

Điều 2 Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP nêu rõ, trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm, trong đó có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và bị xét xử trong cùng một vụ án, Tòa án chỉ áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nếu có đủ căn cứ.

Đối với các hành vi vi phạm khác, Tòa án tiếp tục xử lý theo quy định của pháp luật. Tương tự, trong một vụ án có nhiều bị can, bị cáo, cơ chế đặc thù chỉ được xem xét đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và đáp ứng các điều kiện tương ứng. Những người khác vẫn bị xử lý theo quy định hiện hành.

Đối với các vụ việc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà dự án, công trình đã hoàn thành nhưng chưa khắc phục hậu quả thiệt hại, Tòa án không áp dụng cơ chế tạm đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo Điều 8 và Điều 9 của Nghị quyết số 29/2026/QH16 mà tiếp tục giải quyết, xét xử và thi hành án theo quy định.

Theo Điều 8, Nghị quyết số 04/2026/NQ-HĐTP có hiệu lực từ ngày 15/10/2026. Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đơn vị thuộc hệ thống Tòa án khẩn trương rà soát những bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không có hành vi tham nhũng xảy ra trước ngày 1/8/2024 để xem xét áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù khi có đủ căn cứ.

Việc triển khai Nghị quyết tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết, xét xử các vụ án liên quan đến vi phạm pháp luật về đất đai, đồng thời góp phần xử lý những vướng mắc pháp lý tại các dự án tồn đọng, kéo dài.

Thế Kiên

Nguồn Điện tử & Ứng dụng: https://dientuungdung.vn/vi-pham-dat-dai-co-the-duoc-mien-trach-nhiem-hinh-su-tu-1510-18612.html