Vì sao các dự án xử lý rác lớn ở An Giang vẫn chậm từ chủ trương đến vận hành?

Rác phát sinh ngày càng lớn, trong khi năng lực xử lý chưa theo kịp. Khoảng cách từ chủ trương đến nhà máy vận hành đang là bài toán môi trường cần được An Giang tháo gỡ.

An Giang đang đứng trước áp lực ngày càng lớn về chất thải sinh hoạt. Toàn tỉnh phát sinh khoảng 2.274 tấn rác/ngày, nhưng tỷ lệ thu gom mới đạt 76,4%; riêng khu vực nông thôn chỉ khoảng 63,1%. Khoảng 2,5 triệu tấn rác tồn đọng chưa được xử lý triệt để, trong khi nhiều khu xử lý đã có dấu hiệu quá tải.

Đáng chú ý, ba cơ sở xử lý rác đang hoạt động trên địa bàn mới có tổng công suất khoảng 390 tấn/ngày. Trong khi đó, theo định hướng đến năm 2030, tổng công suất các cơ sở xử lý chất thải cần đạt khoảng 4.910–6.710 tấn/ngày.

Khoảng cách này cho thấy bài toán không chỉ nằm ở việc An Giang có bao nhiêu dự án xử lý rác, mà quan trọng hơn là bao nhiêu dự án đã thực sự tạo ra công suất xử lý ngoài thực tế.

An Giang đang đứng trước áp lực ngày càng lớn về chất thải sinh hoạt. 

An Giang đang đứng trước áp lực ngày càng lớn về chất thải sinh hoạt. 

Dự án đa dạng, nhưng công suất xử lý thực tế vẫn thiếu

Danh mục các dự án xử lý chất thải của An Giang đang được triển khai theo nhiều hướng, từ xử lý chất thải rắn, đốt rác phát điện đến các khu xử lý tập trung. Tuy nhiên, tiến độ giữa các dự án có sự chênh lệch lớn, từ chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư đến thi công và hoàn thiện thủ tục đất đai.

Tại Cụm Long Xuyên, dự án nhà máy xử lý chất thải rắn công suất 300 tấn/ngày đã khởi công và triển khai các hạng mục xây dựng. Dự án từng được đặt mục tiêu đưa vào vận hành trong năm 2026, nhưng các mốc hoàn thành được cập nhật, điều chỉnh theo quá trình triển khai. Đây là dự án đã bước sang giai đoạn thi công, song hiệu quả cuối cùng vẫn phải được đo bằng thời điểm nhà máy thực sự tiếp nhận và xử lý rác.

Cũng tại Cụm Long Xuyên là dự án nhà máy xử lý chất thải công suất 1.000 tấn/ngày, định hướng sử dụng công nghệ đốt rác phát điện, chia thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn 500 tấn/ngày.

Quy mô dự án rất lớn nhưng tiến độ hiện vẫn chủ yếu ở bước chuẩn bị đầu tư, hoàn chỉnh tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư và các thủ tục liên quan, chưa chuyển sang giai đoạn xây dựng nhà máy.

Tại Phú Thạnh, dự án nhà máy xử lý rác công suất 200 tấn/ngày cũng đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư và hoàn chỉnh các thủ tục lựa chọn nhà đầu tư. Trong khi đó, nhu cầu xử lý tại khu vực này đã rất lớn, đặt ra yêu cầu phải sớm bổ sung công suất xử lý mới.

Nếu ở đất liền, một số dự án còn ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thì tại Phú Quốc, các dự án phục vụ APEC 2027 đã tiến thêm một bước.

Khu xử lý rác Bãi Bổn có quy mô 15 ha, công suất 250 tấn/ngày, tổng mức đầu tư khoảng 382 tỷ đồng đã được khởi công và chuyển sang giai đoạn xây dựng. Theo thông tin tiến độ được công bố, dự án đã được bàn giao mặt bằng và từng đạt khoảng 20% khối lượng.

Nhà máy điện rác Bãi Bổn cũng đã được triển khai, nhưng quá trình thực hiện còn gắn với các thủ tục về đất đai. Việc cưỡng chế, di dời tài sản trên một phần diện tích dự án là một trong những bước phải xử lý để hoàn thiện mặt bằng.

Trong khi đó, nhà máy xử lý chất thải rắn An Thới có công suất 110 tấn/ngày, tổng mức đầu tư khoảng 140 tỷ đồng đã hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư cơ bản nhưng vẫn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng.

Những con số trên cho thấy cùng là dự án xử lý rác nhưng mỗi công trình đang ở một “vạch tiến độ” khác nhau. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến công suất được tính trong quy hoạch chưa thể lập tức chuyển thành năng lực xử lý thực tế.

6 dự án xử lý rác – 6 trạng thái tiến độ

300 tấn/ngày – Cụm Long Xuyên:  Đã khởi công, đang thi công; mục tiêu đưa vào vận hành trong năm 2026.

1.000 tấn/ngày – Cụm Long Xuyên:  Dự án đốt rác phát điện quy mô lớn, hiện ở bước chuẩn bị đầu tư, hoàn chỉnh tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư.

200 tấn/ngày – Phú Thạnh:  Đang chuẩn bị đầu tư, chưa bước vào xây dựng nhà máy.

250 tấn/ngày – Bãi Bổn, Phú Quốc:  Diện tích 15 ha, vốn khoảng 382 tỷ đồng; đã khởi công, chuyển sang giai đoạn xây dựng.

200–300 tấn/ngày – Nhà máy điện rác Bãi Bổn:  Đã triển khai nhưng còn các thủ tục liên quan đến đất đai, mặt bằng.

110 tấn/ngày – Nhà máy xử lý rác An Thới:  Vốn khoảng 140 tỷ đồng; còn vướng giải phóng mặt bằng.

Bài toán đặt ra:  Từ chuẩn bị đầu tư đến vận hành thực tế, các dự án đang ở những trạng thái khác nhau. Trong khi đó, toàn tỉnh phát sinh khoảng 2.274 tấn rác/ngày, nhưng ba cơ sở đang hoạt động mới có tổng công suất khoảng 390 tấn/ngày.

Gỡ điểm nghẽn từ nhà đầu tư, tài chính đến nguồn lực môi trường

Một trong những điểm nghẽn được tỉnh An Giang nhìn nhận là khả năng chuyển nhanh từ chủ trương sang dự án thực chất. Một số nhà đầu tư chưa bảo đảm năng lực hoặc tiến độ; một số dự án còn phải xử lý các thủ tục liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng và đầu tư.

Nhân lực mỏng, hạ tầng xử lý chưa theo kịp, nhiều dự án chậm triển khai đang là những điểm nghẽn An Giang phải tháo gỡ để tăng trưởng đi cùng bảo vệ môi trường.

Nhân lực mỏng, hạ tầng xử lý chưa theo kịp, nhiều dự án chậm triển khai đang là những điểm nghẽn An Giang phải tháo gỡ để tăng trưởng đi cùng bảo vệ môi trường.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức nhấn mạnh quan điểm tỉnh không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, đồng thời yêu cầu chuyển từ tư duy xử lý khi ô nhiễm đã xảy ra sang chủ động phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm từ sớm.

Theo ông Ngô Công Thức, áp lực quản lý môi trường đang gia tăng trong khi nguồn nhân lực chuyên trách còn hạn chế. Toàn tỉnh hiện chỉ có khoảng 20 công chức thực hiện công tác quản lý môi trường ở cấp tỉnh; tại cấp xã, cán bộ môi trường thường phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Từ thực tế này, tỉnh đặt vấn đề bổ sung nhân lực chuyên môn và nghiên cứu cơ chế bố trí phù hợp với đặc điểm từng địa bàn.

Lãnh đạo tỉnh cũng định hướng huy động thêm nguồn lực cho các dự án môi trường, trong đó nghiên cứu các giải pháp về tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất và tăng cường nguồn lực cho các công trình, hệ thống quan trắc môi trường.

Với các dự án xử lý rác, tháo gỡ thủ tục là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải bảo đảm sự liên thông giữa nguồn rác – công nghệ – nhà máy – đầu ra của sản phẩm sau xử lý. Nếu một mắt xích không vận hành, công suất thiết kế cũng khó chuyển thành hiệu quả môi trường thực tế.

Định hướng của An Giang đến năm 2030 là từng bước chấm dứt các bãi chôn lấp gây ô nhiễm, giảm phụ thuộc vào chôn lấp, chuyển sang các giải pháp như sản xuất nhiên liệu từ rác, đốt phát điện, tái chế và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Đây là bước chuyển cần thiết khi lượng chất thải ngày càng lớn. Nhưng để biến định hướng thành kết quả môi trường, yếu tố quyết định vẫn là tiến độ và hiệu quả vận hành của từng dự án.

Với 2.274 tấn rác phát sinh mỗi ngày, trong khi năng lực của ba cơ sở đang hoạt động mới khoảng 390 tấn/ngày, khoảng cách cần lấp đầy vẫn rất lớn.

Vì vậy, bài toán xử lý rác của An Giang không còn dừng ở câu hỏi “có dự án hay chưa”, mà phải chuyển sang những câu hỏi cụ thể hơn: dự án nào sẽ vận hành trước, tạo thêm bao nhiêu công suất và khi nào lượng rác thực sự được xử lý an toàn?

Đó mới là thước đo thực chất để mục tiêu giảm chôn lấp, tăng tái chế, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trên địa bàn.

5 điểm nghẽn cần tháo gỡ:

-Nhà đầu tư:  Năng lực tài chính, tiến độ và khả năng tổ chức thực hiện chưa đồng đều.
-Cơ chế đầu tư:  Thủ tục, chính sách và cơ chế thu hút nguồn lực xã hội cần tiếp tục hoàn thiện.
-Bài toán tài chính:  Giá dịch vụ xử lý rác và nguồn thu phải đủ để nhà máy vận hành bền vững.
-Nguồn rác đầu vào:  Thu gom, vận chuyển và phân loại chưa đồng bộ, ảnh hưởng hiệu quả công nghệ.
-Công nghệ và đầu ra:  Công nghệ phải phù hợp với thành phần rác; sản phẩm sau xử lý như RDF, điện, vật liệu tái chế cần có đầu ra ổn định.

-Mấu chốt:  Không phải cứ có dự án là có năng lực xử lý. Khoảng cách từ quy hoạch, chủ trương đến một nhà máy vận hành hiệu quả mới là điểm nghẽn cần được giải quyết.

Thanh Xuân

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/vi-sao-cac-du-an-xu-ly-rac-lon-o-an-giang-van-cham-tu-chu-truong-den-van-hanh-118689.html