Việt Nam mong muốn thành công của cộng đồng các nhà đầu tư sẽ song hành cùng sự phát triển của đất nước

Sáng 28/10, tại phiên toàn thể cấp cao trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã đối thoại trực tiếp với ông Stephan Mergenthaler, Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF).

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã đối thoại trực tiếp với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler. (Nguồn: BTC)

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã đối thoại trực tiếp với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler. (Nguồn: BTC)

Chuyển dịch toàn cầu và tác động đối với quỹ đạo phát triển của Việt Nam

Trả lời câu hỏi đầu tiên của đại diện WEF về việc Việt Nam nhìn nhận như thế nào về sự dịch chuyển của thế giới với sự phân mảnh địa kinh tế, cạnh tranh công nghệ và tái định hình chuỗi cung ứng, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhận định rằng, nhìn tổng thể, thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc. Tương quan sức mạnh tiếp tục dịch chuyển, thúc đẩy xu hướng đa cực, đa trung tâm. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và mở rộng sang kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng...

“Chúng tôi thấy xu hướng toàn cầu hóa tiếp tục, nhưng được tổ chức lại theo xu thế mới. Chúng tôi thấy nhiều diễn biến phân mảnh hơn và yêu cầu ngày càng cao về an ninh, tự chủ, sức chống chịu. Chính vì vậy, chúng tôi nhìn nhận sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và phân bổ các lợi thế, nguồn lực phát triển”, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam bày tỏ.

Từ những chuyển dịch đó, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ ba thách thức mới, gắn bó chặt chẽ với nhau, mà Việt Nam và nhiều quốc gia đang đối mặt:

Thứ nhất, thách thức về cơ chế, luật lệ chung toàn cầu. Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, với xu thế phát triển như hiện nay, rõ ràng các cơ chế và luật lệ chung của quốc tế chưa theo kịp những biến động và diễn biến nhanh chóng của tình hình. Do đó, Thủ tướng Chính phủ cho rằng các cơ chế và thể chế quốc tế cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ hai, mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực truyền thống đã bộc lộ những giới hạn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Điều này buộc các nước phải tìm kiếm mô hình phát triển, tăng trưởng mới. Đây cũng là thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt.

Thứ ba, lòng tin chiến lược đang suy giảm trong khi cạnh tranh gia tăng. Do đó, cần đổi mới mô hình, cách thức hợp tác, đầu tư và phối hợp để cùng nhau xây dựng, củng cố lại lòng tin. “Không thể phát triển, không thể hợp tác nếu chúng ta không củng cố và xây dựng lòng tin chiến lược”, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh.

Từ thực tiễn đó, năng lực phát triển của mỗi quốc gia sẽ ngày càng được quyết định không chỉ bởi quy mô hay lợi thế sẵn có, mà còn bởi sức chống chịu, mức độ tự chủ chiến lược và khả năng kiến tạo các động lực tăng trưởng mới. Điều này đòi hỏi phải đồng thời đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung; chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất; nâng cao chất lượng thể chế, quản trị và năng lực dự báo; qua đó chủ động thích ứng với biến động, tận dụng cơ hội và nâng cao vị thế trong cục diện đang định hình; qua đó chủ động thích ứng với biến động, tận dụng cơ hội để nâng cao chất lượng, giá trị, vị thế.

Bên cạnh đó, những thách thức, thay đổi sâu sắc và mang tính thời đại của tình hình thế giới cũng như khu vực đang tác động sâu sắc và nhanh chóng đến mọi quốc gia. Vì vậy, vừa qua, Việt Nam đã chủ động nhận diện, đối diện với những thách thức đó và tự hoạch định những chủ trương, đường lối, chiến lược nhằm quyết tâm đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Những quyết sách chiến lược mà Việt Nam đang thực hiện có thể kể đến như:

Thứ nhất, tập trung tăng cường củng cố tự chủ chiến lược gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu sắc, đồng bộ và hiệu quả. Đây là một trong những chủ trương chiến lược mà Việt Nam đang thực hiện và sẽ quyết tâm thực hiện trong thời gian tới.

Thứ hai, tiến hành đổi mới một cách căn bản, toàn diện mô hình phát triển đất nước, trong đó có mô hình tăng trưởng. Việt Nam lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia làm đột phá quan trọng hàng đầu và là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng cũng như sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, đặt trọng tâm vào đột phá cải cách thể chế gắn với việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Có thể nói, trong thời gian vừa qua, việc chủ động nhận diện và đối diện với những thách thức, cũng như chủ động hoạch định và triển khai các quyết sách chiến lược cho thấy Việt Nam đang rất chủ động trong việc thích ứng với những biến đổi diễn ra nhanh chóng ở quốc tế và khu vực.

“Chúng tôi rất mong muốn hợp tác, phát triển và ủng hộ mạnh mẽ các nỗ lực nhằm thúc đẩy toàn cầu hóa, đa phương hóa và đổi mới các thể chế, phương thức hợp tác, quản trị toàn cầu vì lợi ích chung”, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam khẳng định.

Đồng thời, theo Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, khi tình hình càng biến động, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, càng phải chủ động về chiến lược, củng cố nội lực, tự chủ và mở rộng hợp tác. Trong đó, Việt Nam sẽ tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, cũng như là điểm đến ổn định, an toàn cho các đối tác và nhà đầu tư.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam xác định tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là nâng cao năng lực tự quyết, đồng thời mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế một cách chủ động, sâu rộng và hiệu quả. (Nguồn: BTC)

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam xác định tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là nâng cao năng lực tự quyết, đồng thời mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế một cách chủ động, sâu rộng và hiệu quả. (Nguồn: BTC)

Kiến tạo những động lực tăng trưởng mới

Trả lời câu hỏi thứ hai về xây dựng năng lực chống chịu,Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho rằng, trong một thế giới bất định, sức chống chịu của một quốc gia không chỉ là khả năng đứng vững trước các cú sốc, mà quan trọng chính là khả năng thích ứng, phục hồi và chủ động, sáng tạo, tự đổi mới để phát triển mạnh mẽ hơn nữa sau những cú sốc và biến động đấy. Một nền kinh tế có thể vượt qua những khó khăn trước mắt, tạm thời, song hoàn toàn sẽ vẫn rất dễ bị tổn thương trước những biến động và cú sốc tiếp theo.

Là một nền kinh tế có độ mở rất cao, dễ chịu tác động trực tiếp từ các cú sốc bên ngoài, Việt Nam không chỉ chú trọng xử lý các tác động ngắn hạn mà đã và đang chủ động xây dựng thực thi đường lối phát triển dài hạn, chiến lược; tăng cường tự chủ, năng lực chống chịu trên cơ sở một số yếu tố như:

Thứ nhất, xác định kiên định mục tiêu ổn định chính trị - xã hội và củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện thành công mục tiêu này nhằm củng cố niềm tin của người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong nước, cũng như các nhà đầu tư và đối tác nước ngoài. Các chính sách vĩ mô của Việt Nam sẽ tiếp tục được điều hành một cách linh hoạt nhằm bảo đảm nền tảng ổn định vững chắc, cũng như bảo đảm các cân đối lớn, an ninh năng lượng, an ninh lương thực.

Thủ tướng Chính phủ nói thêm, hiện nay nợ công của Việt Nam chỉ khoảng 34-35% GDP. Điều này cho phép đất nước hình chữ S có một “tấm đệm về tài chính” để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp khi các cú sốc đến, song vẫn đủ khả năng và năng lực tài chính để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng chiến lược, hay các mục tiêu phát triển ưu tiên. Việt Nam xác định rõ và sẽ quyết tâm thực hiện điều này.

Bên cạnh đó, Việt Nam xác định những cú sốc có thể đến nhanh và tác động trực tiếp, do đó cần tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, khả năng hoạch định và thực thi các chính sách phản ứng kịp thời, đúng thời điểm.

Thứ hai, Việt Nam sẽ tập trung ưu tiên xây dựng thể chế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, pháp quy theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế một cách đồng bộ, hiện đại; qua đó tạo đột phá cho tăng trưởng bền vững, tăng cường năng lực quản trị quốc gia hiện đại, kiến tạo phát triển.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cắt giảm mạnh mẽ các thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Thủ tướng Lê Minh Hưng dẫn đánh giá của Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam cho biết, việc cắt giảm các thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh của Chính phủ đã giúp tiết kiệm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Việc này đã được cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao.

Thứ ba, Việt Nam sẽ ưu tiên triển khai đột phá chiến lược về hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông, cảng biển, năng lượng và các hạ tầng thiết yếu khác; đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực khả năng cạnh tranh, chất lượng hiệu quả của nền kinh tế, cũng như doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ tư, tiến hành đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục đào tạo, trong đó ưu tiên giáo dục đại học, giáo dục đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu và thay đổi của thị trường lao động, các ngành nghề mới.

Thứ năm, Việt Nam sẽ tiếp tục củng cố cục diện đối ngoại và đa dạng hóa các mối quan hệ, qua đó góp phần mở rộng không gian phát triển.

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam xác định tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là nâng cao năng lực tự quyết, đồng thời mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế một cách chủ động, sâu rộng và hiệu quả. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn vốn và công nghệ, năng lượng, chuỗi cung ứng, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do; củng cố quan hệ cân bằng, ổn định, cùng có lợi với các đối tác; và tích cực tham gia các cơ chế đa phương.

Ngoài ra, một cục diện đối ngoại rộng mở sẽ giúp Việt Nam phân tán rủi ro, tiếp tục tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, duy trì các kênh hợp tác khi môi trường quốc tế biến động; qua đó vừa gia tăng khả năng chống chịu vừa nâng cao vị thế của đất nước.

“Tóm lại, Việt Nam xác định, với ổn định chính trị - xã hội, ổn định vĩ mô là nền tảng, thể chế phát triển là đột phá, công nghệ là động lực, doanh nghiệp là trung tâm, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quan trọng, đối ngoại rộng mở tạo không gian và nguồn lực phát triển, Việt Nam không chỉ chống chịu tốt hơn trước các cú sốc, mà còn chủ động chuyển hóa những thách thức thành cơ hội để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, vì lợi ích của Việt Nam và các đối tác”, Thủ tướng Lê Minh Hưng chia sẻ.

Định vị Việt Nam trong tương lai toàn cầu

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhận định, trong kiến trúc kinh tế toàn cầu mới, với xu thế phát triển, bối cảnh phát triển như hiện nay, Việt Nam mong muốn từng bước định hình vị thế của mình là: (i) Trung tâm công nghiệp công nghệ số mới nổi trung tâm năng lượng và trung tâm sản xuất nông nghiệp xanh của khu vực và thế giới; (ii) mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng và giá trị khu vực, toàn cầu; (iii) đóng góp quan trọng vào tăng trưởng khu vực và thế giới thông qua thể chế, quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Và để đạt được vị thế đó, thì Việt Nam có các thế mạnh như:

Thứ nhất, Việt Nam có thế mạnh về vị trí địa chiến lược; chính trị, kinh tế vĩ mô ổn định; và là điểm sáng về tăng trưởng trong khu vực cũng như trên thế giới. Trong một thế giới đầy biến động, sự ổn định về chính trị và kinh tế vĩ mô của Việt Nam là một lợi thế quan trọng. Đồng thời, đất nước hình chữ S duy trì triển vọng tăng trưởng tích cực, thuộc nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất châu Á và ngày càng tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng quan trọng trong thương mại quốc tế.

Bên cạnh đó, vị trí địa chiến lược tại châu Á - Thái Bình Dương năng động, cùng mạng lưới hiệp định thương mại rộng mở và quan hệ kinh tế đa dạng với nhiều đối tác quan trọng, tạo nền tảng để Việt Nam trở thành điểm hội tụ giữa các thị trường, chuỗi cung ứng, dòng vốn và hệ sinh thái công nghệ. Đây cũng là lợi thế quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng coi trọng sự đa dạng, khả năng chống chịu và tính liên kết của chuỗi giá trị.

Thứ hai, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao và hành động quyết liệt đúng vào thời điểm kinh tế thế giới cũng đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Khi dòng vốn và chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển theo hướng số hóa, xanh và công nghệ cao, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực.

Thứ ba, Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận vừa đóng góp vào các mạng lưới tăng trưởng mới. Quy mô dân số Việt Nam trên 100 triệu người, với nguồn nhân lực dồi dào, có truyền thống coi trọng giáo dục, kỹ năng tốt, khả năng học hỏi và thích ứng nhanh, nền sản xuất đã được kiểm chứng qua nhiều năm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường lớn, năng động, cùng tiềm năng đa dạng về nông nghiệp, kinh tế biển, khoáng sản chiến lược, năng lượng tái tạo và đa dạng sinh học.

Sự kết hợp giữa con người, năng lực sản xuất, thị trường và nguồn lực tạo nên nền tảng quan trọng để Việt Nam không chỉ tiếp nhận đầu tư, công nghệ mà còn ngày càng có khả năng tham gia tạo ra giá trị, công nghệ và các động lực tăng trưởng mới.

Đối ngoại - nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong kỷ nguyên mới

Giữa bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gay gắt, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và hiến chương Liên hợp quốc.

Cụ thể, theo người đứng đầu Chính phủ Việt Nam, tự chủ chiến lược có nghĩa là trước tình hình quốc tế đang biến động nhanh, phức tạp, Việt Nam xác định, cần củng cố năng lực nội tại để giữ vững quyền tự quyết, chủ động lựa chọn cách thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc và tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác.

“Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Dù tình hình thế giới, tình hình quốc tế có biến động như thế nào, chúng tôi vẫn kiên định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển đất nước. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để Việt Nam đóng góp có trách nhiệm và chủ động hơn vào các vấn đề chung của khu vực và quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển”, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, để đảm bảo tự chủ chiến lược, Việt Nam xác định phải dựa vào nội lực, nâng cao sức mạnh tự cường của đất nước, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Việt Nam cũng tiếp tục hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước phát triển, đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh con người; đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu, nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động từ bên ngoài.

Đồng thời, Việt Nam tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng. Thủ tướng Chính phủ đề cập rằng hiện nay Việt Nam đã ký kết 18 hiệp định thương mại tự do, nên cần mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác và thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ, tri thức phục vụ phát triển. Mục tiêu của đất nước hình chữ S là không chỉ là tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn nâng cao năng lực nội sinh và từng bước làm chủ công nghệ, tạo ra những giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.

Toàn cảnh đối thoại. (Nguồn: BTC)

Toàn cảnh đối thoại. (Nguồn: BTC)

Từ tham gia đến đồng kiến tạo

Trả lời câu hỏi về những cam kết của Việt Namđối với các đối tác quốc tế như WEF, các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ rõ, chúng ta đều nhận thức sâu sắc rằng thế giới đang trải qua thời điểm bước ngoặt, với những chuyển đổi mang tính nền tảng trên mọi ngành, mọi lĩnh vực.

Do đó, tư duy hợp tác cũng cần thay đổi: Từ phối hợp thực thi sang đồng hành chiến lược; từ khai thác cơ hội sang kiến tạo cơ hội; từ chia sẻ lợi ích sang chia sẻ trách nhiệm và định hình tương lai.

Trên tinh thần đó, Việt Nam mong muốn các đối tác không chỉ đến với Việt Nam để tìm kiếm cơ hội, mà còn cùng hoạch định và cụ thể hóa những ý tưởng, giải pháp và động lực phát triển mới thành các dự án sản phẩm cụ thể; đồng thời chia sẻ trách nhiệm và kiên trì theo đuổi cho đến kết quả cuối cùng.

Với Chính phủ các nước, Việt Nam mong muốn: (i) Cùng hợp tác nhằm củng cố môi trường hòa bình, ổn định và mở rộng các động lực phát triển mới, từ đó gắn kết tầm nhìn và lợi ích chiến lược dài hạn; (ii) Cùng xây dựng các khuôn khổ hợp tác cởi mở, công bằng, bền vững, nhất là về kết nối kinh tế, thương mại, đầu tư, hạ tầng, thúc đẩy hợp tác về khoa học - công nghệ nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp trọng điểm; (iii) Cùng định hình những khuôn khổ và chuẩn mực hợp tác mới vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp, để những thành quả của phát triển được chuyển hoá trực tiếp thành chất lượng sống ngày càng tốt hơn của mọi người dân.

Với cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu, đất nước hình chữ S kêu gọi: (i) Các doanh nghiệp không chỉ mang đến nguồn vốn, mà cùng chia sẻ công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản trị, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhất là trong các ngành công nghiệp trọng điểm; (ii) Các tập đoàn quốc tế hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng suất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp, tăng cường liên kết và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu; (iii) Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh phải gắn với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân để thành công của mỗi doanh nghiệp song hành với sự phát triển của Việt Nam.

Nhân dịp này, Thủ tướng đề nghị WEF tiếp tục tích cực hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển. Việt Nam sẵn sàng trở thành Đối tác chiến lược của WEF tại khu vực để cùng thúc đẩy những ý tưởng, sáng kiến mới; cũng như triển khai những mô hình, cách làm sáng tạo; đem lại lợi ích cho Việt Nam, khu vực và toàn cầu.

Từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”

Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư mà còn là đối tác phát triển lâu dài; không chỉ mong muốn tiếp nhận vốn, công nghệ mà còn mong muốn hợp tác cùng các đối tác để cùng phát triển, kiến tạo tương lai chung hòa bình, ổn định, thịnh vượng và bền vững.

Đó là thông điệp mà Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng gửi gắm tới cộng đồng quốc tế, các đối tác và doanh nghiệp tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026.

Theo người đứng đầu Chính phủ, Việt Nam đang đổi mới mô hình phát triển, chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, với tinh thần chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, Thủ tướng mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học; cùng phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới nhà cung ứng. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tạo thêm những đối tác có năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của mạng lưới sản xuất, kinh doanh mà chúng ta cùng tham gia.

Về phần mình, Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Việt Nam sẽ tiếp tục kiên định mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng thực thi pháp luật, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư; duy trì đối thoại, lắng nghe và phối hợp xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền, để các cam kết hợp tác được triển khai hiệu quả.

“Việt Nam rất mong muốn thành công của quý vị, cộng đồng các nhà đầu tư sẽ song hành với sự phát triển của đất nước chúng tôi”, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

Ngọc Anh

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/viet-nam-mong-muon-thanh-cong-cua-cong-dong-cac-nha-dau-tu-se-song-hanh-cung-su-phat-trien-cua-dat-nuoc-461733.html