VIS 2026: Thúc đẩy đổi mới sáng tạo để tạo ra giá trị kinh tế
TP. Hồ Chí Minh có nhiều cơ hội phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhờ tiến bộ công nghệ, dòng vốn và kết nối quốc tế. Tuy nhiên, để chuyển tiềm năng thành giá trị kinh tế, thành phố cần thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực hấp thụ nguồn lực…

Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới Sáng tạo Việt Nam 2026 (VIS 2026) diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh vào ngày 14/10. Ảnh: InnoLab Asia
Ngày 14/10, Hội nghị Thượng đỉnh Đổi mới Sáng tạo Việt Nam 2026 (VIS 2026) diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, startup, hơn 20 quỹ đầu tư từ Malaysia, Hàn Quốc và các tổ chức thuộc mạng lưới sáng tạo tại hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sự kiện do InnoLab Asia phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức, dưới sự bảo trợ chiến lược của UBND TP.HCM.
ĐƯA CÔNG NGHỆ VÀO GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN THỰC TẾ
Phát biểu tại sự kiện, ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, cho rằng đổi mới sáng tạo cần gắn chặt hơn với khả năng thương mại hóa công nghệ và sự đồng hành của thể chế. Đây là điều kiện để cơ hội hội nhập chuyển thành năng lực cạnh tranh thực chất, thay vì chỉ dừng ở việc thu hút đầu tư.

Ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, phát biểu tại Vietnam Innovation Summit 2026.
“Những chuyển dịch của kinh tế toàn cầu đang làm thay đổi cấu trúc dòng vốn, phương thức quản trị và tiêu chuẩn cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, thành phố cần tạo dựng môi trường để công nghệ chuyên sâu và nguồn vốn quốc tế có điều kiện thử nghiệm, kết nối và phát triển thành giá trị kinh tế bền vững”, lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh.
Chia sẻ với VnEconomy, ông Huỳnh Công Thắng, Chủ tịch InnoLab Asia, cho biết chủ đề “Critical Mass” của VIS 2026 có nghĩa là “ngưỡng tới hạn”, thời điểm các nguồn lực tích lũy đủ để tạo ra bước chuyển lớn.
Theo ông Thắng, Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi, từ tốc độ phát triển công nghệ, sự dịch chuyển của dòng vốn đến sự quan tâm ngày càng lớn của doanh nghiệp đối với đổi mới sáng tạo và khả năng kết nối quốc tế. Tuy nhiên, các nguồn lực về chính sách, công nghệ, vốn, thị trường và con người cần được kết nối hiệu quả mới có thể tạo ra chuyển biến đáng kể. “Rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở khoảng cách công nghệ, mà nằm ở khoảng cách thực thi”, ông Thắng nhận định.
Khoảng cách này thể hiện ở việc giải pháp có thể được nghiên cứu thành công nhưng chưa tìm được doanh nghiệp ứng dụng, chưa chứng minh được hiệu quả kinh tế hoặc chưa đủ điều kiện mở rộng quy mô. Vì vậy, đổi mới sáng tạo cần xuất phát từ những vấn đề cụ thể và nhu cầu từ thị trường
Trong đó, các lĩnh vực nông nghiệp thông minh, tối ưu hóa năng lượng trong sản xuất và y tế dự phòng có thể đặt ra bài toán ứng dụng rõ ràng, với hiệu quả được đánh giá qua khả năng cải thiện quy trình, tiết kiệm nguồn lực và đáp ứng nhu cầu thực tế.
Để đưa công nghệ từ nghiên cứu đến thương mại hóa, doanh nghiệp cần xác định nhu cầu thị trường ngay từ đầu, đồng thời thúc đẩy cơ chế phối hợp 5 bên. Trong đó, doanh nghiệp lớn cung cấp bài toán và môi trường thử nghiệm; tổ chức nghiên cứu phát triển giải pháp; nhà đầu tư bổ sung nguồn lực tài chính; cơ quan quản lý tạo điều kiện về chính sách và thể chế. Qua đó, công nghệ có thể được kiểm chứng trước khi mở rộng.
Tại VIS 2026, bốn không gian được thiết kế với các mục tiêu riêng: Inno tạo diễn đàn đối thoại về những vấn đề lớn của doanh nghiệp và nền kinh tế; Connect giới thiệu công nghệ, sản phẩm và giải pháp tại hơn 150 không gian trưng bày; Collab tổ chức hơn 250 phiên kết nối 1:1 giữa doanh nghiệp, startup, nhà đầu tư và đối tác quốc tế; Beyond tập trung vào từng ngành, thị trường và chương trình hợp tác quốc tế.
Theo ông, hiệu quả của hệ sinh thái sau mỗi sự kiện là startup có tìm được nhà đầu tư, công nghệ có được doanh nghiệp ứng dụng và doanh nghiệp Việt Nam có thêm đối tác mở rộng thị trường hay không.
VỐN QUỐC TẾ CẦN ĐI CÙNG NĂNG LỰC HẤP THỤ
Bên cạnh việc đưa công nghệ vào thực tiễn, ông Thắng cho rằng Việt Nam cần tăng cường hợp tác xuyên biên giới và đa dạng hóa nguồn vốn. Mục tiêu hiện nay không đơn thuần là thu hút đầu tư, mà còn giúp các giải pháp công nghệ Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế và tìm được đối tác đồng hành dài hạn.
Ông đề cập đến nguồn vốn “kiên nhẫn” (patient capital) từ các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, UAE, Australia, Thụy Sĩ và Canada thường chú trọng quá trình phát triển doanh nghiệp và khả năng tạo giá trị dài hạn, thay vì kết quả tài chính trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, thu hút vốn cần đi cùng năng lực hấp thụ của nền kinh tế. Dòng vốn quốc tế chỉ có thể phát huy tác động bền vững khi doanh nghiệp đủ khả năng triển khai dự án, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường, đồng thời môi trường thể chế thuận lợi để giảm trở ngại trong quá trình đầu tư, kinh doanh.
Vấn đề này cũng được đề cập tại phiên thảo luận về dòng vốn quốc tế, khu thương mại tự do (FTZ) và Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam (VIFC) trong khuôn khổ VIS 2026.
Ông Niraj Vedwa, thành viên Hội đồng quản trị Xacbank (Mông Cổ), đề TP. Hồ Chí Minhcó thể tận dụng thế mạnh sản xuất, dòng vốn FDI và vị trí kết nối chuỗi cung ứng ASEAN để trở thành một trung tâm tài chính thế hệ mới, thông qua kết hợp giữa VIFC và FTZ.

Ông Huỳnh Công Thắng, Chủ tịch InnoLab Asia.
Điều tôi muốn nhìn thấy là sau VIS có startup nào tìm được nhà đầu tư, công nghệ nào tìm được doanh nghiệp ứng dụng, doanh nghiệp Việt Nam nào có thêm đối tác để đi ra thị trường khu vực, hay một cuộc gặp tại VIS có tiếp tục thành một dự án cụ thể hay không. Xây hệ sinh thái cuối cùng vẫn là câu chuyện về những gì mọi người thực sự làm được cùng nhau.
"VIFC và FTZ có thể trở thành hai mặt của cùng một động lực thu hút vốn, kết hợp hạ tầng tài chính với hạ tầng thương mại để tạo ra lợi thế khác biệt", ông nói.
Trong đó, VIFC quy tụ các nhà quản lý tài sản, ngân hàng, quỹ đầu tư, giao dịch ngoại hối, văn phòng quản lý tài sản gia đình, tài chính xanh, công nghệ tài chính và tài chính số. FTZ đóng vai trò động lực phát triển kinh tế thực, thông qua hệ thống logistics, sản xuất và chuỗi cung ứng, các ngành công nghiệp chiến lược và công nghệ cao.
Ngược lại, hoạt động giao thương, logistics và tài chính thương mại tại FTZ tạo ra nhu cầu cho các dịch vụ tài chính, phòng ngừa rủi ro và ngoại hối tại VIFC.
Trong khi đó, ông Nguyễn Duy Hiếu, đối tác và lãnh đạo khối pháp lý EY Law Vietnam, nhấn mạnh về khả năng kết nối với mạng lưới tài chính quốc tế cần đi cùng môi trường pháp lý có tính dự đoán, cơ chế triển khai phù hợp và cơ hội đầu tư đủ sức thuyết phục. Nếu thiếu những điều kiện này, vốn có thể tìm đến thị trường nhưng khó chuyển thành các dự án có khả năng triển khai và mở rộng.
Ngoài ra, ông Thắng nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực và năng lực lãnh đạo trong chiến lược đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026–2045. Việt Nam cần xây dựng môi trường cạnh tranh và nhân văn để giữ chân, phát triển người tài, đồng thời thu hút nhân lực quốc tế tham gia phát triển các sản phẩm có khả năng cạnh tranh.

