Vốn ngoại đổ vào TP.HCM, nhưng nhà đầu tư ngày càng khắt khe
Thành phố thu hút 19,1 tỷ USD vốn FDI trong 10 tháng. Nhưng để tiền thực sự được giải ngân và ở lại lâu dài, dự án phải chứng minh hiệu quả tài chính, đạt chuẩn ESG, có điện ổn định và chính sách nhất quán.
Trong 10 tháng đầu năm, TP.HCM thu hút 19,1 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vượt 73,9% kế hoạch cả năm, theo Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Lộc Hà. Lũy kế đến nay, thành phố có hơn 22.036 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký trên 157,4 tỷ USD, ông Hà cho biết tại diễn Dàn hợp tác đầu tư TP.HCM 2026. Riêng các khu chế xuất và khu công nghiệp thu hút 5,7 tỷ USD trong chín tháng, tăng 29% so với cùng kỳ.
Ông Hà nêu bốn động lực đứng sau đà tăng này: không gian kinh tế mở rộng sau khi thành phố hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu từ tháng 7/2025; Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 1/10/2026; các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98 và Nghị quyết 260; và bộ máy hành chính đang chuyển từ quản lý sang phục vụ, đồng hành với doanh nghiệp.

Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Lộc Hà. Ảnh: ITPC.
Nhưng chính các nhà đầu tư quốc tế lại đang đặt ra những điều kiện cụ thể hơn và khắt khe hơn. Họ nói tiền không thiếu, song chỉ giải ngân khi dự án chứng minh được khả năng sinh lời, đạt chuẩn ESG, có nguồn điện ổn định và môi trường pháp lý có thể dự báo.
Ưu đãi thuế chỉ tạo sức hút ban đầu, theo ông Travis Mitchell, Giám đốc điều hành Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham). Với TP.HCM, thách thức là biến lợi thế về không gian và cơ chế thành dòng vốn dài hạn.
"Qua trao đổi với các nhà đầu tư quốc tế, tính khả thi về tài chính là yếu tố được quan tâm hàng đầu", ông Don Lam, Giám đốc và cổ đông sáng lập VinaCapital, nói.
Hạ tầng đang thu hút nhiều chú ý của dòng vốn ngoại, nhưng theo ông Don Lam, nhà đầu tư không chỉ nhìn quy mô công trình mà còn xét tính ổn định, năng lực vận hành và cam kết đầu tư dài hạn. Một công trình lớn chưa chắc hấp dẫn nếu chưa chứng minh được doanh thu và hiệu quả kinh tế lâu dài.
"Nguồn vốn quốc tế không thiếu, nhưng không dễ giải ngân nếu những điều kiện này chưa được đáp ứng", ông nói.
Tiêu chí thứ hai là ESG, tức môi trường, xã hội và quản trị. Ông Don Lam cho rằng đây không còn là yếu tố khuyến khích mà đang ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các định chế tài chính. Hằng năm, VinaCapital chấm điểm ESG đối với các doanh nghiệp Việt trong danh mục và dùng kết quả này làm cơ sở cân nhắc phân bổ vốn.
"Những doanh nghiệp có điểm ESG tốt thường tạo được niềm tin cao hơn", ông nói, còn các đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu sẽ gặp bất lợi khi tìm kiếm nguồn vốn. Ông khuyên doanh nghiệp Việt chủ động tìm hiểu các tiêu chí này và tham khảo báo cáo đánh giá do chính VinaCapital công bố hằng năm trên website của quỹ.
Sự khắt khe không dừng ở vốn. Việt Nam đã ký 17 hiệp định thương mại tự do và ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng mở rộng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với giữ lại nhiều giá trị hơn.
Bình quân cứ 100 đồng hàng hóa xuất khẩu, Việt Nam chỉ giữ lại khoảng 28 đồng giá trị gia tăng, theo bà Nguyễn Dạ Quyên, đồng phụ trách Trung tâm sản xuất thông minh và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (C4IR) tại TP.HCM.
Tỷ lệ này khác nhau đáng kể giữa các ngành: ngành gỗ giữ lại giá trị nội địa cao hơn ngành điện tử. Bà Quyên cho rằng muốn nâng vị thế, Việt Nam cần ba nguồn lực then chốt là dòng vốn, dữ liệu và nhân lực có kỹ năng, nhất là kỹ sư và lao động kỹ thuật lành nghề.
Bà Quyên nói yêu cầu của nhà mua hàng cũng đã đổi khác khi các tập đoàn quốc tế tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Chi phí thấp và khả năng đáp ứng đơn hàng không còn là yếu tố quyết định duy nhất.
Nếu trước đây nhà mua hàng hỏi "Doanh nghiệp sản xuất được gì, có sản phẩm gì để chúng tôi mua?", thì nay câu hỏi là "Doanh nghiệp Việt Nam có thể cùng chúng tôi đưa ra những giải pháp gì?".
Nhà cung ứng vì thế không chỉ phải hoàn thành đơn hàng mà còn phải chủ động đổi mới, giải quyết vấn đề và cùng đối tác tạo ra giá trị mới, tức chuyển từ gia công sang đồng sáng tạo.

TP.HCM đang nỗ lực tạo ra những lợi thế thực chất về hạ tầng, chính sách và môi trường kinh doanh để thu hút vốn đầu tư. Ảnh: Hoàng Anh.
Các đối tác cũng ngày càng hỏi về nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện lao động, tỷ lệ vật liệu tái chế và mức tiêu thụ nhiên liệu.
Bà Quyên cho rằng doanh nghiệp có thể bắt đầu từ việc ghi chép, chuẩn hóa thông tin và xây dựng hệ thống quản lý dữ liệu ngay trong sản xuất hằng ngày. Nhưng chi phí đáp ứng không nhỏ: một nhà máy có khoảng 10 khách hàng quốc tế có thể phải khai báo thông tin trên khoảng sáu nền tảng phần mềm khác nhau, nhập lại dữ liệu theo biểu mẫu riêng, bà nói. Việc này làm tăng chi phí tuân thủ và tiêu tốn nguồn lực, nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bà Quyên đề xuất các nền tảng dữ liệu dùng chung, biểu mẫu thống nhất thông qua hiệp hội ngành hàng, cùng dịch vụ và hạ tầng hỗ trợ tại các khu công nghiệp.
Từ góc nhìn của một đối tác thương mại hàng đầu, ông Mitchell nhận định quan hệ thương mại Việt Nam - Mỹ đang mở ra nền tảng thuận lợi để nâng cấp hợp tác đầu tư. Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều vượt 215 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ hơn 153 tỷ USD.
Theo ông Mitchell, dư địa hợp tác cần mở rộng sang bán dẫn và công nghệ cao, hạ tầng năng lượng sạch và y tế chuyên sâu.
Việc Intel, Nvidia và Qualcomm hiện diện và mở rộng hoạt động cho thấy Việt Nam đang dần vượt khỏi vai trò điểm lắp ráp chi phí thấp. Nhưng để tiến sâu vào nghiên cứu phát triển (R&D) và thiết kế chip, lợi thế chi phí hay ưu đãi thuế là chưa đủ. "Môi trường đầu tư phải giải quyết được những điều kiện căn bản mà các tập đoàn công nghệ lớn đặt ra", ông nói.
Điều kiện đầu tiên, theo ông Mitchell, là nguồn cung năng lượng ổn định. Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), Luật Điện lực sửa đổi và Quy hoạch điện VIII cần được thực thi thông suốt để nhà đầu tư tiếp cận điện tái tạo và đáp ứng cam kết Net Zero toàn cầu. Điều kiện thứ hai là môi trường pháp lý minh bạch, có thể dự báo. Sự nhất quán của chính sách, tốc độ xử lý thủ tục và độ ổn định dài hạn mới quyết định doanh nghiệp có đầu tư lớn và gắn bó lâu dài hay không, ông nói.
TP.HCM đang tìm cách đáp lại. Ông Phạm Quang Nhật, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM (ITPC), cho biết thành phố đang xây dựng cấu trúc ưu đãi ba tầng, gồm chính sách quốc gia dành cho lĩnh vực công nghệ cao, cơ chế dành cho nhà đầu tư chiến lược theo Luật Phát triển đô thị và các chính sách tài chính vượt trội tại Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM (VIFC-HCMC).
Thành phố cũng muốn đơn giản hóa toàn bộ quy trình đầu tư qua nền tảng số HCMCInvest, hoạt động như đầu mối một cửa. "Từ thẩm định mặt bằng, thiết kế gói ưu đãi phù hợp đến hỗ trợ vận hành dự án, thành phố kỳ vọng rút ngắn quy trình và giảm chi phí gia nhập thị trường cho doanh nghiệp", ông Nhật nói.
Cơ chế đã được nêu ra, và điều kiện của nhà đầu tư cũng đã rõ. Ông Mitchell nói các cơ chế về điện và pháp lý cần được thực thi thông suốt, còn thành phố kỳ vọng rút ngắn quy trình. Việc hai điều đó có thành hiện thực hay không, cùng khả năng của doanh nghiệp trong nước chứng minh hiệu quả tài chính và ESG, sẽ cho thấy dòng vốn 19,1 tỷ USD có chuyển thành sự gắn bó dài hạn hay không.



