Vụ đồ hộp Hạ Long: lỗ hổng 'chết người' ở cơ chế hậu kiểm

Các thương hiệu lâu năm như đồ hộp Hạ Long thường mặc nhiên được xếp vào nhóm 'rủi ro thấp'. Khi đó, tần suất kiểm tra, mức độ nghi ngờ giảm đi và những câu hỏi khó không còn được đặt ra thường xuyên.

Lỗ hổng lớn trong cơ chế hậu kiểm

VKSND TP.Hải Phòng vừa phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hải Phòng đối với ông Trương Sỹ Toàn, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long cùng 3 cán bộ, nhân viên phụ trách kiểm soát chất lượng, để điều tra liên quan vụ 130 tấn thịt heo nhiễm dịch tả lợn châu Phi được phát hiện tại Hải Phòng.

Trước đó, qua khám xét khẩn cấp trụ sở và các kho hàng thuộc Công ty đồ hộp Hạ Long, Công an thành phố đã tiến hành niêm phong 4 kho chứa hàng, khoảng 130 tấn thịt lợn đông lạnh. Ngay sau khi vụ việc bị phát hiện, toàn bộ số thịt heo nhiễm bệnh đã bị niêm phong, tiêu hủy theo quy định.

Ông Trương Sỹ Toàn, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long

Ông Trương Sỹ Toàn, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long

Vụ việc này nhanh chóng gây xôn xao dư luận, tuy nhiên một vấn đề nhức nhối đặt ra là các sai phạm tại Đồ hộp Hạ Long chỉ bị phát hiện sau nhiều năm cho thấy lỗ hổng rất lớn trong cơ chế hậu kiểm.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS cho rằng:“Lỗ hổng cốt lõi của cơ chế hậu kiểm hiện nay chính là sự lệ thuộc quá mức vào hồ sơ – giấy tờ, trong khi kiểm soát thực chất và trách nhiệm chuỗi bị làm mờ”.

Trước hết, theo ông Tuấn, hậu kiểm đang bị “hành chính hóa”, thay vì được triển khai như một công cụ quản lý rủi ro. Trên thực tế, hoạt động hậu kiểm của nhiều cơ quan quản lý chủ yếu xoay quanh việc kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý: giấy phép, chứng nhận, hóa đơn, sổ sách.

Khi doanh nghiệp có đủ giấy tờ hợp lệ, việc kiểm tra thường dừng lại ở đó. Trong khi đó, các yếu tố mang tính quyết định đến an toàn thực chất – như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế, tính trung thực của thông tin công bố – lại ít được kiểm tra sâu, hoặc chỉ làm mang tính hình thức.

Điều này dẫn đến một nghịch lý: doanh nghiệp “đạt chuẩn trên giấy” nhưng rủi ro vẫn tồn tại ngoài đời thực, và chỉ lộ diện khi đã tích tụ đủ lớn để không thể che giấu.

Thứ hai, uy tín lâu năm của doanh nghiệp vô tình tạo ra một “vùng miễn dịch giám sát”. Các thương hiệu tồn tại nhiều năm, quen mặt trên thị trường thường mặc nhiên được xếp vào nhóm “rủi ro thấp”. Khi đó, tần suất kiểm tra giảm, mức độ nghi ngờ giảm, và những câu hỏi khó không còn được đặt ra thường xuyên.

Đồ hộp Hạ Long là thương hiệu lớn, lâu năm

Đồ hộp Hạ Long là thương hiệu lớn, lâu năm

Ông Tuấn nêu: Chính cơ chế này khiến các sai phạm có tính hệ thống dễ dàng kéo dài trong âm thầm, từ việc đánh tráo xuất xứ, lập lờ thông tin sản phẩm, cho đến thu mua nguyên liệu không bảo đảm an toàn.

“Nói cách khác, thương hiệu càng lớn, lịch sử càng dài, thì giám sát thực tế lại càng lỏng lẻo, trong khi đây lẽ ra phải là nhóm chịu sự kiểm soát chặt chẽ nhất vì tác động xã hội của họ là rất lớn”, ông Tuấn nêu.

Thứ ba, cơ chế hậu kiểm hiện nay chưa gắn chặt trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm pháp nhân. Khi sai phạm bị phát hiện, việc xử lý thường dừng lại ở mức phạt hành chính đối với doanh nghiệp, trong khi trách nhiệm của người ra quyết định, người phê duyệt, người kiểm soát nội bộ không được truy cứu đến cùng.

Điều này tạo ra tâm lý “chi phí vi phạm” có thể tính toán được, khiến sai phạm không còn là rủi ro pháp lý thực sự, mà trở thành một lựa chọn kinh doanh có chủ đích.

Theo luật sư Tuấn, trong bối cảnh đó, hậu kiểm không còn là công cụ phòng ngừa, mà chỉ là bước xác nhận hậu quả khi sự việc đã vượt quá ngưỡng chịu đựng của xã hội.

Ông Tuấn cũng nhấn mạnh rằng cần nhìn thẳng vào lỗ hổng từ phía cơ quan quản lý. Khi việc cấp phép, thẩm định, hậu kiểm bị lệ thuộc quá nhiều vào quy trình nội bộ, thiếu minh bạch và thiếu cơ chế giám sát chéo hiệu quả, thì nguy cơ “tha hóa thủ tục” là điều khó tránh.

“Những vụ việc liên quan đến sai phạm trong hoạt động cấp phép, chứng nhận an toàn thực phẩm thời gian qua cho thấy: khi lá chắn cuối cùng của người tiêu dùng bị suy yếu, thì hồ sơ hợp lệ không còn là bảo chứng cho an toàn, mà có thể trở thành công cụ che chắn sai phạm”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Cần giám sát cả quá trình “hậu kiểm”

Do đó, ông Nguyễn Văn Tuấn cho rằng pháp luật cần chuyển trọng tâm hậu kiểm từ “kiểm tra hồ sơ” sang “kiểm tra bản chất”.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS

Cụ thể, hiện nay, nhiều quy trình hậu kiểm vẫn dừng lại ở việc đối chiếu giấy phép, chứng nhận, sổ sách – tức là kiểm tra những gì doanh nghiệp trình ra. Trong khi đó, điều pháp luật cần ưu tiên là kiểm soát thực tế điều kiện sản xuất, nguyên liệu đầu vào, chuỗi cung ứng và mức độ tuân thủ thực chất.

Đặc biệt, ông Tuấn khuyến nghị cần siết chặt trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu và người có thẩm quyền quyết định, thay vì chỉ xử lý pháp nhân một cách chung chung. Trong các vụ việc lớn, sai phạm hiếm khi xuất phát từ một cá nhân đơn lẻ, mà thường là kết quả của nhiều quyết định liên tiếp trong hệ thống quản lý nội bộ.

“Pháp luật cần được vận hành theo hướng: khi rủi ro đã đủ lớn, trách nhiệm cá nhân không được phép “ẩn” sau tư cách pháp nhân. Chỉ khi người ký, người phê duyệt, người chịu trách nhiệm chuyên môn có nguy cơ chịu trách nhiệm pháp lý thực sự, thì hậu kiểm mới có tác dụng răn đe”, ông Tuấn nói.

Đặc biệt, ông Tuấn nhấn mạnh phải coi hậu kiểm là cơ chế phòng ngừa sớm, không phải bước xác nhận muộn. Điều này đòi hỏi phải thiết kế lại tần suất và phương thức kiểm tra theo mức độ rủi ro, thay vì kiểm tra định kỳ cứng nhắc.

Nhiều sản phẩm pate nhiễm virus bị tiêu hủy

Nhiều sản phẩm pate nhiễm virus bị tiêu hủy

“Những doanh nghiệp có quy mô lớn, ảnh hưởng xã hội rộng, hoặc hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm như thực phẩm, y tế, cần được đặt trong diện giám sát trọng điểm, bất kể lịch sử hay uy tín lâu năm. Uy tín không thể thay thế cho giám sát độc lập”, ông Tuấn nêu.

Một vấn đề quan trọng nữa theo ông Tuấn là cần tăng cường cơ chế giám sát chéo và minh bạch hóa hoạt động hậu kiểm. Việc công khai kết quả hậu kiểm, truy xuất trách nhiệm của cơ quan kiểm tra, và mở rộng vai trò giám sát của xã hội, báo chí và người tiêu dùng sẽ tạo ra áp lực ngược, buộc cơ quan quản lý phải làm đúng và làm thật.

Lam Thanh

Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/vu-do-hop-ha-long-lo-hong-chet-nguoi-o-co-che-hau-kiem-243505.html