‘Vườn ươm’ huy chương và khát vọng Việt Nam vươn ra thế giới - Kỳ 3: Để những tấm huy chương trở thành nguồn lực khoa học, công nghệ
Huy chương mới là điểm khởi đầu và để tài năng trở thành nguồn lực khoa học, công nghệ, cần một hành trình liên tục từ phổ thông đến nghiên cứu và sự nghiệp.
“Đường băng” cho tài năng khoa học, công nghệ
Một học sinh có thể giành Huy chương Vàng Olympic ở tuổi 17, nhưng hành trình để trở thành nhà khoa học, kỹ sư hay chuyên gia công nghệ có khả năng tạo ra tri thức, công nghệ và sản phẩm mới cần nhiều thời gian. Năng lực giải quyết những bài toán Olympic ở trình độ cao là một nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học đặt ra những yêu cầu khác.
GS Nguyễn Ngọc Hà - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người tham gia tuyển chọn, tập huấn và dẫn đội tuyển Olympic Hóa học quốc tế suốt 14 năm qua, phân tích: “Từ một ‘học sinh giỏi’ đến một ‘nhà khoa học giỏi’ là một hành trình dài. Olympic chủ yếu rèn khả năng giải những bài toán khó đã được đặt ra, còn nghiên cứu khoa học đòi hỏi cao hơn: biết phát hiện vấn đề mới, đặt câu hỏi đúng, xây dựng giả thuyết, thực nghiệm và tạo ra tri thức mới. Vì vậy, nếu quá trình bồi dưỡng kết thúc sau kỳ thi và tấm huy chương thì chúng ta mới chỉ làm tốt khâu phát hiện tài năng, chưa thực sự phát triển được tài năng”.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh minh họa: Quỳnh Nga
Khoảng cách giữa thành tích thi cử và năng lực nghiên cứu cũng cho thấy vì sao quá trình phát triển tài năng cần được nối dài sau Olympic.
GS Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhấn mạnh: “Chúng ta thay đổi tư duy từ ‘đào tạo để thi’ sang ‘đào tạo để phát triển nhân tài’, thành tích tại các kỳ Olympic quốc tế là điểm khởi đầu của quá trình phát triển nhân tài, mục tiêu cuối cùng là đào tạo đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư và nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển đất nước”.
Các môn học Việt Nam có thế mạnh tại Olympic cũng là nền tảng của nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ. Toán học có vai trò đối với khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, mật mã và nhiều ngành kỹ thuật; Vật lý là nền tảng của bán dẫn, vật liệu, năng lượng; Hóa học gắn với vật liệu mới, dược phẩm, môi trường; Sinh học mở sang công nghệ sinh học, y sinh; Tin học gắn trực tiếp với công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Đây cũng là những lĩnh vực gắn với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, nhân tài được đặt ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Từ phía ngành Giáo dục, định hướng đào tạo cũng được đặt trong mối liên hệ với nhu cầu phát triển quốc gia. GS Huỳnh Văn Chương cho biết cần ưu tiên các lĩnh vực khoa học cơ bản, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng mới và các ngành chiến lược phục vụ mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Như vậy, vấn đề sau Olympic không chỉ là giúp một học sinh tiếp tục phát triển năng lực cá nhân, mà còn là tạo những con đường để tài năng được phát hiện ở phổ thông có cơ hội phát triển trong các lĩnh vực đất nước đang cần.
Từ góc độ giáo dục, PGS.TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội sử dụng hình ảnh một “đường băng” để mô tả hệ thống cần thiết cho hành trình phát triển của những người trẻ có năng lực nổi trội.
“‘Đường băng’ cho nhận diện, bồi dưỡng, phát triển tài năng phải là một hệ sinh thái liên tục từ phổ thông đến đại học, sau đại học và phát triển sự nghiệp. Hiện nay, chúng ta làm khá tốt khâu chuẩn bị cho một kỳ thi nhưng sự liên thông sau huy chương, sau bằng cấp còn chưa rõ”, ông Nam nhận định.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, trước hết cần có cơ sở dữ liệu theo dõi hành trình học tập và phát triển của học sinh tài năng trên cơ sở tự nguyện và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tiếp đến là cơ chế liên thông giữa trường chuyên, đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm và doanh nghiệp để người học được tiếp xúc sớm với nghiên cứu và các bài toán thực tế.
Ở bậc đại học, các chương trình tài năng cần gắn với học bổng toàn phần, cố vấn khoa học, cơ hội nghiên cứu, trao đổi quốc tế và lộ trình học tập linh hoạt. Sau đại học, ông đề xuất có quỹ hỗ trợ nhà khoa học trẻ và các vị trí nghiên cứu sau tiến sĩ, hạn chế tình trạng những người xuất sắc bị đứt đoạn quá trình phát triển khi bắt đầu sự nghiệp.
Từ phía cơ quan quản lý, GS Huỳnh Văn Chương cho biết định hướng là hoàn thiện cơ chế phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài từ bậc phổ thông theo hướng liên tục, bài bản, gắn kết giữa nhà trường phổ thông, đại học, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ.
Một nội dung khác là xây dựng chính sách phát triển và sử dụng nhân tài trẻ, gồm ưu tiên chế độ học bổng, học vượt cấp, đào tạo song bằng, ưu tiên tuyển dụng, tạo điều kiện tham gia các nhóm nghiên cứu và các chương trình đào tạo trong, ngoài nước. Những định hướng này cho thấy quá trình phát triển tài năng cần được nhìn như một chuỗi liên tục, thay vì kết thúc khi học sinh hoàn thành một kỳ thi hoặc rời trường phổ thông.
Một trong những vấn đề được đặt ra là duy trì kết nối với những học sinh đã được phát hiện có năng lực sau khi các em rời bậc phổ thông. GS Huỳnh Văn Chương cho rằng cần xây dựng mạng lưới học sinh đạt giải Olympic quốc tế, duy trì kết nối, theo dõi quá trình học tập, nghiên cứu và tạo cơ chế để các em tiếp tục đóng góp cho đất nước sau khi tốt nghiệp.
Sau phổ thông, con đường của học sinh Olympic bắt đầu phân nhánh. Các em có thể học đại học trong nước, nhận học bổng du học, tiếp tục khoa học cơ bản, chuyển sang công nghệ hoặc lựa chọn những lĩnh vực nghề nghiệp khác. GS Nguyễn Ngọc Hà nêu quan điểm: “Với học sinh Olympic, chúng ta đã làm khá tốt việc phát hiện tài năng ở tuổi 16-18; bài toán tiếp theo là duy trì kết nối với các em trong 10-20 năm sau đó. Nếu xây dựng được mạng lưới giữa các thế hệ học sinh Olympic, các nhà khoa học Việt Nam trong và ngoài nước với trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ, nguồn lực từ giáo dục mũi nhọn sẽ không kết thúc sau một kỳ thi mà tiếp tục được tích lũy và lan tỏa”.
Từ “chảy máu” đến “tuần hoàn” chất xám
Một bộ phận học sinh xuất sắc sau phổ thông sẽ tiếp tục học tập và nghiên cứu ở nước ngoài. Trong bối cảnh khoa học ngày càng mang tính toàn cầu, câu chuyện phát triển nhân tài vì thế không chỉ nằm ở việc một người có trở về làm việc toàn thời gian hay không.
PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng: “Chúng ta không nên đánh giá chính sách nhân tài chỉ bằng số người trở về quê hương đóng góp trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, điều quan trọng hơn là phải tạo được dòng chảy chất xám và một mạng lưới hợp tác bền vững giữa người Việt trong nước với cộng đồng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài”.
Với những người trở về, theo PGS.TS Trần Thành Nam, môi trường làm việc cần có vị trí phù hợp, quyền tự chủ học thuật, phòng thí nghiệm, kinh phí khởi đầu và cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ dựa trên năng lực. Người tài trở về mà không có nhóm nghiên cứu, thiết bị và quyền quyết định chuyên môn thì rất khó phát huy năng lực.
Trong khi đó, những người tiếp tục làm việc ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp thông qua nhiều hình thức như đồng chủ trì đề tài, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, giảng dạy ngắn hạn, tham gia hội đồng khoa học, phòng thí nghiệm liên kết hoặc cố vấn doanh nghiệp công nghệ.
GS Nguyễn Ngọc Hà cho rằng: “Hiệu quả của quá trình phát hiện và bồi dưỡng nhân tài không nên chỉ được đo bằng số huy chương hay số người trở về nước. Quan trọng hơn là chúng ta có tạo được một môi trường đủ tốt để người tài muốn trở về và có thể phát huy năng lực khi trở về; đồng thời có những cơ chế đủ linh hoạt để người Việt Nam tài năng ở bất cứ đâu cũng có thể đóng góp cho đất nước”. Bên cạnh chế độ đãi ngộ, môi trường học thuật, điều kiện nghiên cứu, cơ chế tài trợ minh bạch, khả năng xây dựng nhóm nghiên cứu, quyền chủ động về chuyên môn và cơ hội hợp tác quốc tế là những yếu tố quan trọng. “Vì thế, theo tôi, cần chuyển cách nhìn từ ‘thu hút người tài trở về’ sang ‘tạo điều kiện để người tài đóng góp’”, GS Nguyễn Ngọc Hà nhấn mạnh.
Thành tích Olympic có những thước đo cụ thể: số Huy chương Vàng, Bạc, Đồng, thứ hạng của đội tuyển và vị trí của từng thí sinh. Nhưng nếu mục tiêu cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao, việc đánh giá cần được kéo dài hơn một mùa thi.
PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng: “Hiệu quả của hệ thống không nên chỉ là số huy chương, bảng xếp hạng thành tích mà phải là số tài năng tiếp tục theo đuổi khoa học, số công trình có giá trị, những công nghệ lõi được làm chủ, các doanh nghiệp spin-off được hình thành và những bài toán lớn của đất nước, của từng địa phương được giải quyết”.
Thước đo ấy kéo dài từ thời điểm một học sinh được phát hiện ở tuổi 16-18 đến khi người đó học đại học, sau đại học, bước vào nghiên cứu và phát triển sự nghiệp. Đó cũng là yêu cầu của Nghị quyết số 71-NQ/TW về phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao.
GS Nguyễn Ngọc Hà nhận định, phát hiện được một học sinh xuất sắc là nhận diện được một tiềm năng, còn để tiềm năng ấy trở thành nhân tài cần cả một hệ sinh thái nuôi dưỡng và phát triển.
Còn theo PGS.TS Trần Thành Nam: “Huy chương có thể xác nhận một năng lực ban đầu. Nhưng ‘đường băng’ tốt sẽ quyết định năng lực ấy có trở thành nguồn động lực mạnh mẽ để phát triển quốc gia hay không”.
GS Huỳnh Văn Chương đúc kết: “Điều quan trọng không chỉ là có thêm những tấm huy chương, mà là tạo được một hành trình đủ dài để những tài năng được phát hiện hôm nay trở thành nguồn lực khoa học, công nghệ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước”.
Từ những tấm huy chương, một “vườn ươm” tài năng đang được vun đắp. Nhưng khát vọng vươn ra thế giới không chỉ được thể hiện ở vị trí của học sinh Việt Nam trên các bảng xếp hạng Olympic quốc tế. Xa hơn, đó là hành trình để những tài năng được phát hiện hôm nay có thể trưởng thành thành các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia công nghệ, đủ năng lực tham gia vào những lĩnh vực khoa học, công nghệ tiên tiến và các mạng lưới nghiên cứu quốc tế.
Khi người trẻ Việt Nam không chỉ học hỏi tri thức của thế giới mà còn có khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và đóng góp vào những bài toán chung, những tấm huy chương sẽ thực sự vượt ra khỏi ý nghĩa của một kỳ thi. Đó cũng là cách “vườn ươm” tài năng góp phần tạo nên nguồn lực để Việt Nam tự tin vươn ra thế giới bằng trí tuệ, khoa học và công nghệ.
Những tấm huy chương là thành quả hôm nay nhưng giá trị lâu dài nằm ở những tài năng được phát hiện và bồi dưỡng từ đó. Xây dựng một “vườn ươm” đủ rộng và bền vững chính là cách nối thành tích Olympic với nguồn lực khoa học, công nghệ và khát vọng Việt Nam vươn ra thế giới.
