Xây bản đồ nguồn lực kiều bào kết nối đúng người, đúng việc, đúng nhu cầu
Bản đồ nguồn lực kiều bào phải cho thấy ai đang làm gì, kết nối với ai, sẵn sàng tham gia ở mức độ nào và có sáng kiến gì muốn đề xuất.
Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp gỡ cán bộ Đại sứ quán và kiều bào tại Nga.
Từ nguồn lực quý đến nguồn lực chiến lược
Đứng trên góc nhìn của kiểu bào đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, TS Nguyễn Tiến Việt - Nhà nghiên cứu Kinh tế, Trường Kinh tế London (LSE) cho rằng Nghị quyết 23 đánh dấu bước nâng tầm nhận thức rõ rệt khi cộng đồng không chỉ là “đối tượng vận động” mà là “nguồn lực chiến lược quan trọng” của quốc gia.
“Mọi thứ không còn là hồ nước tĩnh, chờ được rót thêm, mà là một dòng sông, có dòng chảy hai chiều, liên tục, tương tác và làm mới chính mình. Khi kiều bào được xem như một phần của hệ sinh thái phát triển quốc gia thì sự kết nối phải được duy trì thường xuyên, đa chiều và dựa trên năng lực chứ không chỉ kỳ vọng vào sự đóng góp tự phát”, ông Việt cho hay.

Khi đề bài đủ rõ, chuyên gia ở nước ngoài mới có thể đánh giá nghiêm túc liệu mình có thể giúp về công nghệ, phương pháp, đối tác hay vốn.
TS Lưu Vĩnh Toàn
Tương tự, TS Lưu Vĩnh Toàn - Giám đốc Phân tích Kỹ thuật của Ngân hàng UBS tại Zurich (Thuỵ Sĩ) nhìn nhận “thời điểm rất quan trọng” vì thế giới đã thay đổi, đi lại dễ hơn, đất nước cần lực đẩy mới để vượt bẫy thu nhập trung bình và già hóa dân số.
Văn hoá, truyền thống của thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra tại nước ngoài có thể không còn sâu đậm như thế hệ đi trước, nên thời điểm hiện tại được xem là cơ hội phù hợp để biến sự gắn kết của kiều bào thành nguồn lực đóng góp cho sự phát triển đất nước. Đồng thời, ông Toàn cho rằng không nên xem kiều bào là “nguồn lực” theo nghĩa chung chung, vì nguồn lực chỉ mang tính chiến lược khi biết đang có gì, huy động ra sao và đo được giá trị tạo ra.
Cả 2 chuyên gia cùng lưu ý thêm “bản đồ nguồn lực” không nên dừng ở danh sách tên, học hàm, doanh nghiệp hay thống kê số lượng.
“Bản đồ nguồn nhân lực cần trở thành hạ tầng kết nối quốc gia, giúp trả lời những câu hỏi cụ thể: người Việt trên thế giới ai đang làm tốt AI, y tế, bán dẫn, năng lượng, công nghệ sinh học, tài chính, quản trị? Họ sẵn sàng đóng góp theo hình thức nào? Họ kết nối với viện nghiên cứu, quỹ đầu tư, doanh nghiệp, thị trường nào? Và đâu là nhu cầu thực của từng ngành, từng địa phương mà họ có thể cùng giải quyết?”, ông Toàn cho hay.
TS Việt cũng nhấn mạnh thêm việc xây dựng “bản đồ nguồn lực” giúp chuyển từ tư duy “hồ chứa nguồn lực” sang “dòng chảy nguồn lực”, nơi Nhà nước và kiều bào tương tác, hợp tác và đồng hành một cách chủ động.
“Vì vậy, bản đồ nguồn lực không thể chỉ là danh sách tĩnh. Nó phải cho thấy kiều bào đang làm gì, kết nối với ai, sẵn sàng tham gia ở mức độ nào và có sáng kiến gì muốn đề xuất. Đồng thời, bản đồ phải có kênh tương tác 2 chiều để họ phản hồi, đề xuất và thấy rõ tác động của đóng góp”, ông Việt nói.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt đoàn kiều bào tiêu biểu.
Mô hình 3 không gian
Để bản đồ nguồn lực không chỉ là danh sách mà nó phải phản ánh được dòng chảy 2 chiều giữa kiều bào và nhu cầu trong nước, TS Việt đề xuất 3 cách làm, bao gồm: hiển thị năng lực đang vận hành trong chuỗi giá trị, không chỉ lý lịch; thể hiện mạng lưới vì sức mạnh nằm ở cộng đồng chuyên môn; gắn trực tiếp với nhu cầu bộ ngành, địa phương để hệ thống “match” đúng người - đúng việc.
Trong khi đó, TS Toàn đề xuất thiết kế bản đồ nguồn lực 3 chữ C: Competence/Challenge/Co-Creation.
Cụ thể, Không gian 1 - Competence (năng lực) mô tả “Ai có năng lực gì”; Không gian 2 - Challenge (thách thức) mô tả “Việt Nam đang cần giải quyết việc gì”; Không gian 3 - Co-Creation (đồng kiến tạo) mô tả “Sau khi kết nối, kết quả nào được tạo ra”.
Ông Toàn cũng lấy Thụy Sĩ - đất nước luôn đứng đầu trong bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu làm minh chứng cho việc giá trị không nằm ở việc có một danh sách thật lớn mà nằm ở cơ chế biến kết nối thành dự án có người chịu trách nhiệm, có nguồn lực, có đầu ra. Ví dụ, Cơ quan Đổi mới Sáng tạo Thụy Sĩ (Innosuisse) tạo điều kiện cho doanh nghiệp, start-up và cơ sở nghiên cứu hợp tác để phát triển sản phẩm, dịch vụ; đồng thời có hệ thống quản lý hồ sơ dự án và đánh giá tác động.

Đại hội Đại biểu Hiệp hội Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Phú Trần)
Để bản đồ gắn với nhu cầu thực như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, TS Việt nêu 3 điểm cần lưu ý và cũng là 3 rủi ro nếu không làm đúng.
Thứ nhất, cần minh bạch mục đích sử dụng, quyền truy cập và quyền rút lại thông tin để kiều bào yên tâm tham gia.
Thứ hai, bản đồ nguồn lực phải ghi nhận mọi đóng góp, từ trí thức, doanh nhân đến tiểu thương, người trẻ và các mạng lưới cộng đồng.
Thứ ba, gắn kết bền vững chỉ hình thành khi kiều bào được lắng nghe, tạo điều kiện và có cơ hội hợp tác thực chất, qua đó xây dựng cộng đồng tin cậy và đồng hành lâu dài với quê hương.
“Nếu 3 yếu tố này được đảm bảo, bản đồ nguồn lực sẽ không chỉ nhận diện tiềm năng mà còn nuôi dưỡng một cộng đồng tin cậy, đa dạng và sẵn sàng đồng hành lâu dài với quê hương”, ông Việt nhấn mạnh.
Ở phía ngược lại, TS Toàn đề nghị chuẩn hóa đặc tả thách thức. Thay vì đăng lời mời chung chung: “Cần chuyên gia về dữ liệu, biến đổi khí hậu hỗ trợ tỉnh”, thì bây giờ các bên cần nêu rõ: Tỉnh cần xây dựng hệ thống dự báo sạt lở tại 3 huyện miền núi, lực lượng trong nước triển khai ra sao, dữ liệu hiện có, đơn vị nào sở hữu dữ liệu, kết quả mong đợi sau 12 tháng là gì, ai có quyền ra quyết định triển khai....
“Khi đề bài đủ rõ, chuyên gia ở nước ngoài mới có thể đánh giá nghiêm túc liệu mình có thể giúp về công nghệ, phương pháp, đối tác hay vốn”, ông Toàn chia sẻ.
TS Toàn cũng bổ sung 4 yếu tố được kết tinh từ nhiều ý kiến kiều bào để vừa phát huy tiềm năng, vừa tăng cường đoàn kết, gắn kết cộng đồng với quê hương trong quá trình xây dựng bản đồ nguồn lực.
Một là, niềm tin phải đi trước quy mô: khởi đầu bằng mạng lưới lĩnh vực có uy tín và địa phương sẵn sàng làm thật, tốt hơn thu thập hàng trăm nghìn hồ sơ vội.
Hai là, đoàn kết dựa trên mục tiêu chung và tôn trọng phản biện; không biến bản đồ thành công cụ phân loại theo quan điểm, xuất thân, mức gần gũi tổ chức.
Ba là, dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ thực chất, không công khai địa chỉ, nơi làm việc, thông tin liên hệ hay mạng lưới quan hệ của cá nhân nếu chưa có sự đồng ý rõ ràng.
Bốn là, không đồng nhất nguồn lực người Việt ở nước ngoài với một nhóm chuyên gia trí thức hẹp.
Mô hình hệ sinh thái toàn cầu
Hiện tại, Việt Nam có nguồn trí thức ở nước ngoài rất lớn và để triển khai mô hình hệ sinh thái toàn cầu tạo ra kết quả cụ thể, đo lường được, TS Việt cho rằng chúng ta không nên tập trung vào việc chỉ xây dựng một mạng lưới kết nối. Hệ sinh thái cần 3 cấu phần vận hành như một dòng chảy liên tục.
Thứ nhất, hạ tầng dữ liệu. Bản đồ nguồn lực phải cập nhật theo thời gian thực: ai đang làm gì, ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, sẵn sàng tham gia ở mức độ nào. Không có dữ liệu sống thì không thể huy động nguồn lực.
Thứ hai, các “bộ máy trung gian”. Nguồn lực chỉ chảy khi có người dẫn dòng với những trung tâm đổi mới sáng tạo ở nước ngoài, mạng lưới cố vấn theo ngành và điểm chạm tại đại sứ quán để hỗ trợ pháp lý, kết nối và xúc tiến. Đây là những đơn vị biến ý tưởng thành dự án.
Thứ ba, cơ chế tạo sản phẩm. Phải có quỹ đồng đầu tư với kiều bào, chương trình sandbox cho công nghệ mới và cơ chế đặt hàng của Nhà nước cho nhóm chuyên gia ở nước ngoài. Khi có đơn hàng, có vốn, có không gian thử nghiệm, thì dòng chảy nguồn lực mới tạo ra sản phẩm cụ thể.

Thủ tướng Lê Minh Hưng chụp ảnh cùng cán bộ, nhân viên các cơ quan đại diện và cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nga. (Ảnh: Nhật Bắc)
TS Toàn nhìn từ góc nhìn công nghệ thông tin, ông nghĩ Việt Nam cần có nền tảng chung về nhận diện, tiêu chuẩn dữ liệu, bảo mật, quản lý dự án, theo dõi tác động, quy tắc minh bạch; giá trị thực tạo ra tại các mạng lưới chuyên sâu (AI và dữ liệu, bán dẫn, công nghệ sinh học, y tế, năng lượng, tài chính, giáo dục, công nghiệp sáng tạo), mỗi mạng có đồng chủ trì trong nước và ngoài nước cùng bộ phận điều phối chuyên nghiệp.
“Đơn vị vận hành cần chuyển từ cách làm sự kiện sang giải quyết thách thức. Mỗi năm chỉ nên chọn một số thách thức có thời hạn và kết quả rõ ràng, chẳng hạn: nâng năng lực xét nghiệm một bệnh cụ thể, phát triển một chuỗi đào tạo thiết kế chip, xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn cho dịch vụ công, hoặc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ đảm bảo sức khỏe tài chính. Mỗi thách thức gồm nhiều dự án nhỏ để thử nghiệm, điều chỉnh và mở rộng, thay vì chỉ tập trung tất cả vào một dự án lớn”, ông Toàn chia sẻ.
Về phương diện truyền thông, ông Việt đề nghị báo chí không chỉ tôn vinh thành tựu mà nên cho thấy kiều bào đang ở đâu trong hệ sinh thái AI, bán dẫn, y sinh, năng lượng và họ kết nối với Việt Nam thế nào; lan tỏa hình mẫu rộng hơn startup nhỏ, nhà nghiên cứu độc lập, người trẻ làm văn hóa; tổ chức các diễn đàn, podcast, tọa đàm để kiều bào nói lên nhu cầu, sáng kiến và kỳ vọng của họ.
Trong khi đó, TS Toàn muốn báo chí chuyển từ “đưa tin về kiều bào” sang “đưa tin cùng kiều bào”, xây dựng chuyên mục chuyên gia trao đổi với chuyên gia nước ngoài, đưa tiếng nói của họ vào nhận diện vấn đề chứ không chỉ chúc mừng kết quả.
Đồng thời, truyền thông cần kể hành trình dự án: bài toán ban đầu, ai cùng giải, vướng thủ tục hay dữ liệu, kết quả, điều chưa thành công. Báo chí có thể là kênh truyền thông hỗ trợ cho bản đồ nguồn lực như giới thiệu lời mời hợp tác đáng tin cậy, phản ánh tiến độ và tác động, nhắc nhở việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, tránh thương mại hóa hoặc khai thác hình ảnh kiều bào quá mức.
“Tôi vẫn tin nguồn lực kiều bào không chỉ phát huy vào lúc này mà đã phải chuẩn bị cho tương lai. Các bạn trẻ cần nhìn thấy những cơ hội cụ thể: thực tập nghiên cứu, dự án trong kỳ nghỉ, cố vấn khởi nghiệp, cuộc thi giải bài toán địa phương, hợp tác từ xa, chương trình trao đổi giữa trường học và doanh nghiệp hay chỉ đơn giản là trao đổi ngôn ngữ. Khi đó, bản đồ nguồn lực không chỉ là câu chuyện của thế hệ đi trước, mà trở thành cánh cửa để thế hệ mới xây dựng mối liên hệ tự nhiên, tự nguyện và lâu dài với Việt Nam”, ông Toàn kết luận.
