Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, tạo đột phá cho du lịch Việt Nam

Ngày 26/10, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

Cụ thể hóa các chủ trương, định hướng về phát triển du lịch

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - bà Lâm Thị Phương Thanh cho biết, việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về phát triển du lịch, đặc biệt là mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - bà Lâm Thị Phương Thanh chủ trì hội nghị.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - bà Lâm Thị Phương Thanh chủ trì hội nghị.

Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững, triển khai Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được Chính phủ giao phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng, trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam.

Dự thảo Nghị quyết được xây dựng với tinh thần chủ động, quyết liệt, hướng tới những cơ chế, chính sách có tính đột phá, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo động lực mới cho ngành du lịch phát triển. Quá trình xây dựng dự thảo đã có sự tham gia, đóng góp ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời tiếp thu các định hướng của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho hay, dự thảo Nghị quyết không chỉ nhằm cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển du lịch mà còn thể hiện tư duy mới trong huy động và sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, thể chế, tạo điều kiện để các địa phương, doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia, đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành.

7 nhóm chính sách, 21 vấn đề tham vấn

Phát biểu định hướng tham vấn tại hội nghị, theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng, những kết quả đạt được trong phát triển du lịch thời gian qua là nền tảng quan trọng, nhưng trước yêu cầu mới của thực tiễn và sự phát triển của đất nước, ngành du lịch cần tiếp tục đổi mới, tạo đột phá để thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chiến lược. Muốn vậy, cần thu hút thêm nguồn lực đầu tư, phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn, gia tăng mức chi tiêu và thời gian lưu trú của du khách, đồng thời nâng cao năng suất lao động toàn ngành, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - ông Nguyễn Huy Dũng phát biểu định hướng tham vấn tại hội nghị.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - ông Nguyễn Huy Dũng phát biểu định hướng tham vấn tại hội nghị.

Theo đó, mục tiêu của việc xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù là tạo ra những động lực đủ mạnh để khuyến khích nhà đầu tư, với các điều kiện rõ ràng, dễ tiếp cận và khả thi trong thực tiễn. Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mong muốn nhận được ý kiến góp ý thẳng thắn từ cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội, tập trung vào 7 nhóm chính sách với 21 vấn đề tham vấn, đồng thời tiếp nhận những đề xuất khác xuất phát từ thực tiễn hoạt động, cụ thể:

Nhóm chính sách thứ nhất, liên quan đến điều kiện và ưu đãi đối với các dự án du lịch, dự thảo phân chia thành ba nhóm: dự án du lịch chất lượng cao, dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược. Tổng vốn đầu tư tối thiểu tương ứng là 3.000 tỷ đồng, 10.000 tỷ đồng và 30.000 tỷ đồng; vốn đầu tư cho các hạng mục du lịch tối thiểu lần lượt là 1.000 tỷ đồng, 2.000 tỷ đồng và 5.000 tỷ đồng. Số lao động thường xuyên tối thiểu tương ứng là 1.000 người, 1.500 người và 2.000 người. Tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, các ngưỡng này được đề xuất giảm còn một nửa.

Về ưu đãi, dự án du lịch chất lượng cao được đề xuất hỗ trợ hạ tầng, tiếp cận nhà, đất công và xúc tiến thị trường. Dự án du lịch động lực có thể được hưởng ưu đãi tiền thuê đất, áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm. Đối với dự án du lịch động lực mang tính chiến lược, dự thảo đề xuất thời hạn hoạt động đến 70 năm, miễn thuế trong bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo.

Nhóm chính sách thứ hai, hỗ trợ cơ sở lưu trú, mở đường bay và liên kết tiêu thụ sản phẩm, dự thảo đề xuất giảm tối đa 30% tiền thuê đất hằng năm đối với phần diện tích cảnh quan, cây xanh, mặt nước và không gian chung không trực tiếp kinh doanh của khách sạn thành phố, khách sạn nghỉ dưỡng từ 4 sao trở lên, có mật độ xây dựng gộp dưới 25%. Đồng thời, địa phương được quyết định chính sách hỗ trợ mở đường bay mới và liên kết tiêu thụ dài hạn các sản phẩm OCOP.

Nhóm chính sách thứ ba, phát triển mô hình kinh doanh mới, kinh tế đêm và thử nghiệm có kiểm soát, dự thảo đề cập đến kinh tế chia sẻ, nền tảng số, du lịch xanh, du lịch tuần hoàn, kinh tế đêm, du lịch ven sông, ven biển, tổ hợp du lịch và du lịch chăm sóc sức khỏe. Các mô hình đáp ứng điều kiện được đề xuất miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm năm. Một số tổ hợp nghệ thuật, lễ hội, giải trí có thể được thí điểm hoạt động 24/7, áp dụng thủ tục rút gọn và cơ chế cấp phép một lần.

Nhóm chính sách thứ tư, phát triển nhân lực và nâng cao chất lượng đào tạo, dự thảo đề xuất giảm 50% thuế thu nhập cá nhân trong năm năm đối với tiền lương, tiền công đủ điều kiện của chuyên gia, nhân lực chất lượng cao; hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đào tạo, hỗ trợ cơ sở đào tạo và bố trí quỹ đất phát triển nhà ở cho người lao động.

Nhóm chính sách thứ năm, thị thực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, dự thảo hướng tới cải thiện sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam so với các nước trong khu vực về đối tượng được áp dụng, thời hạn thị thực, số lần nhập cảnh, chi phí và mức độ thuận tiện. Các nhóm khách hướng tới gồm khách từ thị trường trọng điểm, khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, khách quay trở lại, khách hội nghị, khách du lịch chăm sóc sức khỏe và người làm việc từ xa.

Nhóm chính sách thứ sáu, phát triển du lịch cộng đồng, doanh nghiệp nhỏ và liên kết điểm đến, dự thảo ưu tiên các điểm du lịch cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo và nông thôn, với các chính sách hỗ trợ hạ tầng, bảo tồn văn hóa, đào tạo, chuyển đổi số, quảng bá và kết nối thị trường. Chính quyền địa phương cũng được đề xuất ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh phát triển du lịch xanh, nâng cao chất lượng dịch vụ phù hợp với đặc thù địa phương.

Nhóm chính sách thứ bảy, hạ tầng, xúc tiến, tín dụng và tổ chức thực hiện, dự thảo ưu tiên phát triển hạ tầng kết nối, hạ tầng thiết yếu, đồng thời định hướng triển khai các công cụ như quỹ bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất và tín dụng ưu đãi xanh cho du lịch.

Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, 7 nhóm chính sách với 21 vấn đề cụ thể được đưa ra nhằm tập trung lấy ý kiến trực tiếp từ những chủ thể sẽ thụ hưởng và triển khai chính sách trong thực tế. Ngoài các nội dung đã gợi mở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mong muốn tiếp nhận thêm những vấn đề quan trọng khác mà doanh nghiệp nhận thấy cần được giải quyết. ác ý kiến sẽ là cơ sở để cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách theo hướng sát thực tiễn, có tính khả thi, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Toàn cảnh hội nghị.

Toàn cảnh hội nghị.

Tại Hội nghị, góp ý vào Điều 6 về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch, ông Nguyễn Quang Trung, Phó Tổng Giám đốc Vietnam Airlines cho rằng, quy định hỗ trợ doanh nghiệp mở đường bay mới còn khá chung chung. Một đường bay quốc tế không chỉ phục vụ một địa phương mà thường mang lại lợi ích cho nhiều tỉnh, thành phố, thậm chí cho cả quốc gia. Nếu chỉ giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mà không có khung, tiêu chí, hình thức và mức hỗ trợ thì rất khó triển khai. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng đề nghị mở rộng phạm vi áp dụng tại Điều 12 đối với các chương trình, hoạt động đầu tư, kinh doanh, thay vì chỉ giới hạn ở “dự án đầu tư”. 

Ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam nêu ý kiến, một trong những vướng mắc lớn nhất khi triển khai dự án du lịch hiện nay là quy hoạch và quỹ đất sạch. Nếu không tháo gỡ việc điều chỉnh quy hoạch cục bộ và tạo lập quỹ đất thì nhiều dự án khó có thể triển khai trên thực tế. Bên cạnh yêu cầu tạo sức lan tỏa về kinh tế, xã hội và thu hút lao động, ông Nguyễn Hồng Hải đề nghị bổ sung tiêu chí đóng góp cho ngân sách địa phương; đồng thời nghiên cứu cơ chế cộng gộp nguồn lực của các dự án liên kết trong cùng một chuỗi, qua đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng tham gia phát triển sản phẩm.

Góp ý về cơ sở chính trị và pháp lý của dự thảo, tại hội nghị, đại diện Vụ Pháp chế (Bộ Tài chính) đánh giá dự thảo cơ bản đã thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, nổi bật là chuyển đổi mô hình, tổ chức không gian phát triển và hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt. Tuy nhiên, những chính sách đặc thù về tài chính, ngân sách và mức miễn, giảm thuế cao hơn quy định hiện hành cần được giải trình cụ thể trong hồ sơ để Quốc hội có cơ sở xem xét. Quy định cũng phải đủ cụ thể về mức trần, khung hoặc tiêu chí. Nếu chỉ đưa ra những nguyên tắc chung, Chính phủ sẽ khó ban hành nghị định hướng dẫn mà không vượt quá quy định của luật hiện hành.

Tại hội nghị, đại  diện Bộ Tài chính đề nghị rà soát quy định tại khoản 1 Điều 5 liên quan đến nhà, đất là tài sản công; làm rõ mối quan hệ giữa dự thảo với các nghị quyết đặc thù đang được áp dụng tại địa phương để tránh chồng chéo. Khi thiết kế ưu đãi thuế đối với những dự án lớn, cơ quan soạn thảo cần tính đến quy định về thuế tối thiểu toàn cầu 15%, tránh trường hợp ưu đãi của Việt Nam bị giảm hiệu quả khi quốc gia khác có quyền thu phần thuế bổ sung. Việc mở rộng đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với dự án du lịch cũng cần được đánh giá tác động thận trọng, bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Trong khi đó, đại diện Bộ Tư pháp đề nghị làm rõ các chính sách được áp dụng trên cả nước hay chỉ giới hạn tại một số địa phương; đồng thời giải trình cơ sở lựa chọn địa bàn ưu tiên. Mối quan hệ giữa Nghị quyết với Luật Thủ đô và các luật, nghị quyết về cơ chế đặc thù của địa phương cũng cần được xác định rõ để tránh lúng túng khi áp dụng.

Trên cơ sở các ý kiến tại hội nghị, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ, đối chiếu từng kiến nghị với các điều khoản của dự thảo. Những nội dung phù hợp sẽ được tiếp thu vào Nghị quyết; những vấn đề khác sẽ được xem xét trong quá trình xây dựng nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của Bộ hoặc trong phân cấp thẩm quyền cho địa phương.

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam được xây dựng nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị. Dự thảo Nghị quyết hướng tới ba mục tiêu: tạo cú hích thu hút đầu tư, hình thành sản phẩm và điểm đến có sức cạnh tranh quốc tế; giảm chi phí, mở rộng không gian kinh doanh để doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cộng đồng thực sự tham gia, hưởng lợi từ du lịch; nâng sức cạnh tranh của điểm đến, tăng thời gian lưu trú, chi tiêu của khách và đóng góp của du lịch vào tăng trưởng. Dự thảo Nghị quyết gồm 12 điều, lựa chọn những chính sách then chốt, áp dụng có trọng tâm tại các trung tâm du lịch lớn, khu du lịch quốc gia, địa bàn du lịch cộng đồng và vùng khó khăn. Ưu đãi gắn với điều kiện, kết quả và cơ chế giám sát.

Bảo Thoa

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/xay-dung-co-che-chinh-sach-dac-thu-tao-dot-pha-cho-du-lich-viet-nam-478588.html