Xây dựng văn hóa số Việt Nam trong kỷ nguyên mới (kỳ 1): Xác lập tư duy chiến lược phát triển văn hóa trên không gian số

Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và sự phát triển của các nền tảng trực tuyến đang làm thay đổi sâu sắc đời sống văn hóa, từ phương thức sáng tạo, trao truyền, tiếp nhận đến quá trình hình thành thị hiếu, chuẩn mực và những giá trị xã hội.

Trong bối cảnh này, xây dựng văn hóa số không đơn thuần là đưa các hoạt động văn hóa lên môi trường mạng, mà còn là nhận diện một không gian văn hóa đang hình thành và phát triển, nơi những giá trị cốt lõi của dân tộc cần tiếp tục được kế thừa, bồi đắp và thực hành bằng những phương thức phù hợp với thời đại.

Đây là một trong những vấn đề đáng chú ý được các chuyên gia, nhà khoa học đặt ra tại Hội thảo khoa học quốc gia "Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới", diễn ra mới đây tại Hà Nội, do Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và Bộ Công an đồng tổ chức.

Không chỉ là số hóa

Thực tế cho thấy, văn hóa số là một khái niệm tương đối mới, cần được nhìn nhận với nội hàm rộng hơn hoạt động số hóa các sản phẩm, tài nguyên văn hóa. Bởi cùng với sự phát triển của công nghệ, những giá trị, chuẩn mực và phương thức sáng tạo, giao tiếp, tiếp nhận văn hóa của con người cũng đang có những thay đổi sâu sắc.

Theo TS Tống Văn Khuông (Phó Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân), trên thế giới cũng như ở Việt Nam, văn hóa số (digital culture) là một khái niệm còn khá mới, đang trong quá trình định hình cả về lý luận và thực tiễn, do đó tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau.

Hội thảo khoa học quốc gia “Phát huy giá trị văn hoá Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: Tuấn Anh

Hội thảo khoa học quốc gia “Phát huy giá trị văn hoá Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Ảnh: Tuấn Anh

Theo Cẩm nang Chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), văn hóa số "cũng mới chỉ đang hình thành, đó là các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của con người trong môi trường số". Cách tiếp cận này nhấn mạnh khía cạnh chuẩn mực, quy tắc ứng xử, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và định hướng hành vi trên không gian mạng.

Ở một cách tiếp cận rộng hơn, văn hóa số còn được hiểu là toàn bộ lối sống của con người trên nền tảng số, bao trùm cả phương diện vật chất, tri thức và tinh thần, được bồi đắp liên tục và biến đổi theo sự phát triển của công nghệ và bối cảnh xã hội. Theo hướng tiếp cận này, văn hóa số không phải là một tập hợp quy tắc tĩnh, mà là một quá trình sản xuất, tương tác và diễn giải các giá trị, ý nghĩa diễn ra thường xuyên giữa con người với con người, giữa con người với công nghệ trong môi trường số.

Từ những cách tiếp cận này, TS Tống Văn Khuông nhấn mạnh: "Văn hóa số là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, tri thức, thói quen ứng xử của con người và cộng đồng được hình thành, bồi đắp và biểu hiện trong quá trình sinh sống, giao tiếp, lao động, sáng tạo trên không gian mạng và trong môi trường số nói chung; là bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc trong điều kiện chuyển đổi số, phản ánh bản sắc, cốt cách con người Việt Nam khi hoạt động trong không gian số".

Theo ông, đây cũng là một trong những trụ cột được xác định trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, bên cạnh Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Rõ ràng, cách tiếp cận này cho thấy văn hóa số không tồn tại tách biệt với nền văn hóa dân tộc, mà là sự tiếp nối, vận động và phát triển của những giá trị văn hóa trong điều kiện công nghệ mới. Sự thay đổi vì thế không chỉ nằm ở việc chuyển đổi hình thức lưu giữ, phổ biến sản phẩm văn hóa, mà còn diễn ra trong cách con người sáng tạo, tương tác, tiếp nhận và thực hành các giá trị ấy trong đời sống.

Ở góc nhìn rộng hơn, PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương) cho rằng, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng xuyên biên giới đang tái cấu trúc cách con người sáng tạo, truyền bá và thụ hưởng văn hóa; đồng thời làm mờ ranh giới giữa sản phẩm văn hóa với sản phẩm công nghệ, giữa không gian văn hóa thực và không gian văn hóa số.

"Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra không còn chỉ là bảo tồn được bao nhiêu di sản hoặc tổ chức được bao nhiêu hoạt động văn hóa, mà là văn hóa đóng góp như thế nào vào chất lượng con người, năng lực cạnh tranh, tăng trưởng, quản trị xã hội và vị thế quốc gia" - ông đặt vấn đề.

Màn hình hiển thị hình ảnh và thông tin hiện vật số hóa tại di tích Nhà tù Hỏa Lò, giúp du khách tra cứu lịch sử trực quan, sinh động và thuận tiện. Ảnh: Phan Phương

Màn hình hiển thị hình ảnh và thông tin hiện vật số hóa tại di tích Nhà tù Hỏa Lò, giúp du khách tra cứu lịch sử trực quan, sinh động và thuận tiện. Ảnh: Phan Phương

Đáng chú ý, trong tham luận, PGS-TS Bùi Hoài Sơn dẫn chứng: Trong phát biểu ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển; đồng thời nhấn mạnh phải xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, phát triển hạ tầng văn hóa số, hình thành dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.

Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý rằng bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số "không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam".

"Tư tưởng này làm rõ một nguyên tắc quan trọng: Số hóa không phải là đích đến, mà là hạ tầng để tái tạo giá trị. Từ đó, cần nhìn không gian số như một không gian văn hóa thực sự. Ở đó diễn ra quá trình hình thành thị hiếu, học tập, giao tiếp, tiêu dùng văn hóa và thậm chí hình thành bản sắc" - PGS Sơn nhấn mạnh - "Thuật toán của nền tảng có thể tạo ra cơ hội tiếp cận tri thức chưa từng có, nhưng cũng có thể khuếch đại nội dung giật gân, định kiến, thông tin sai lệch và xu hướng đồng nhất hóa văn hóa".

Từ đây, chuyên gia này cho rằng, xây dựng văn hóa số không thể chỉ dựa vào kiểm soát nội dung; phải đồng thời phát triển nội dung Việt Nam có chất lượng, nền tảng và dữ liệu Việt Nam, năng lực số của người dân, chuẩn mực ứng xử số, kỹ năng kiểm chứng thông tin và khả năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường mạng.

"Số hóa không phải là đích đến, mà là hạ tầng để tái tạo giá trị. Từ đó, cần nhìn không gian số như một không gian văn hóa thực sự. Ở đó diễn ra quá trình hình thành thị hiếu, học tập, giao tiếp, tiêu dùng văn hóa và thậm chí hình thành bản sắc" - PGS-TS Bùi Hoài Sơn.

Như vậy, xây dựng văn hóa số Việt Nam trước hết đòi hỏi sự đổi mới trong nhận thức về đời sống văn hóa dưới tác động của công nghệ. Số hóa là phương tiện mở rộng khả năng lưu giữ, sáng tạo và lan tỏa, trong khi con người và các giá trị văn hóa dân tộc vẫn giữ vai trò cốt lõi, quyết định chiều sâu và sức sống của văn hóa số. Trên nền tảng này, bản sắc Việt Nam không chỉ được gìn giữ mà còn tiếp tục được bồi đắp, phát triển và khẳng định trong một không gian văn hóa ngày càng rộng mở.

Sự đổi mới trong nhận thức cũng đặt ra yêu cầu xác lập tầm nhìn chiến lược cùng những định hướng phát triển phù hợp, để văn hóa Việt Nam không chỉ thích ứng với môi trường công nghệ mới mà còn chủ động sáng tạo, phát huy giá trị và nâng cao vị thế trong kỷ nguyên số.

Định hình tầm nhìn chiến lược

Ở tầm chiến lược, phát triển văn hóa số được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng con người, môi trường văn hóa và phát huy các giá trị dân tộc. Những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây đã từng bước xác lập tầm nhìn phát triển văn hóa số toàn diện, từ xây dựng hệ giá trị, chuẩn mực đến phát triển hạ tầng, mở rộng không gian sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của người dân.

Trong đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định mục tiêu đến năm 2030 phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số và công nghiệp văn hóa số đạt mức cao của thế giới. Cùng với đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa số gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng và giảm thiểu những tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội.

Triển lãm nghệ thuật thị giác “We are made of SUN” kết hợp ánh sáng, công nghệ tương tác và nghệ thuật số mở ra hành trình khám phá đa giác quan. Ảnh: Khánh Hòa

Triển lãm nghệ thuật thị giác “We are made of SUN” kết hợp ánh sáng, công nghệ tương tác và nghệ thuật số mở ra hành trình khám phá đa giác quan. Ảnh: Khánh Hòa

Định hướng này tiếp tục được khẳng định và phát triển trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa; đồng thời đặt ra yêu cầu nhận thức và xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa, trong đó có mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số, dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số.

Đặc biệt, trong mục tiêu đến năm 2030, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: "Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số". Định hướng này cho thấy không gian số không chỉ là phương tiện hỗ trợ các hoạt động văn hóa, mà còn được nhìn nhận như một bộ phận của môi trường văn hóa cần được xây dựng, phát triển trên nền tảng những giá trị và chuẩn mực phù hợp.

Không dừng lại ở những định hướng chung, Nghị quyết số 80-NQ/TW còn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng môi trường văn hóa trên không gian số. Trong đó, Nghị quyết yêu cầu xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân; ban hành bộ quy tắc ứng xử và làm trong sạch môi trường văn hóa số.

Cùng với đó, Nghị quyết xác định nhiệm vụ xây dựng, vận hành Nền tảng văn hóa số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến và lớp học nghệ thuật trực tuyến, nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền và tầng lớp nhân dân. Những định hướng này cho thấy phát triển văn hóa số không chỉ gắn với ứng dụng công nghệ, mà còn hướng đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao trách nhiệm công dân và bảo đảm quyền sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân.

Trong khi đó, Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định những nhiệm vụ cụ thể về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, nền tảng số dùng chung và các công cụ phân phối, bảo vệ bản quyền nội dung số.

Tiếp đó, Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", xác định chuyển đổi số là công cụ kết nối bảo tồn, phát huy và sáng tạo văn hóa với phát triển kinh tế số, xã hội số trên nền tảng các giá trị văn hóa dân tộc; đồng thời lấy người dân, cộng đồng sáng tạo làm trung tâm của quá trình này.

Rõ ràng, hệ thống chủ trương, chính sách trên đã từng bước xác lập một khuôn khổ phát triển văn hóa số tương đối toàn diện, từ định hướng xây dựng môi trường văn hóa đến phát triển hạ tầng, dữ liệu, nền tảng và hệ sinh thái sáng tạo. Đây là cơ sở để thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa một cách đồng bộ, gắn ứng dụng công nghệ với yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân.

Trên nền tảng đó, phát triển văn hóa số cần hướng đến việc nâng cao năng lực sáng tạo, mở rộng quyền tiếp cận, thụ hưởng văn hóa của người dân và phát huy bản sắc dân tộc trong môi trường mới. Công nghệ mở ra những phương thức và không gian phát triển mới, nhưng chính con người, sức sáng tạo và những giá trị văn hóa Việt Nam mới tạo nên chiều sâu, bản sắc và sức sống của văn hóa số trong kỷ nguyên mới.

(Còn tiếp)

Công Bắc

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/xay-dung-van-hoa-so-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi-ky-1-xac-lap-tu-duy-chien-luoc-phat-trien-van-hoa-tren-khong-gian-so-20261012053013524.htm