Xuất khẩu gạo Việt Nam: Áp lực ngắn hạn và yêu cầu tái cơ cấu cho tăng trưởng bền vững

Năm 2025 khép lại với nhiều gam màu trầm đối với xuất khẩu gạo Việt Nam. Dù vẫn duy trì sản lượng trong nhóm cao nhất thế giới, song kim ngạch thu về sụt giảm mạnh do giá gạo toàn cầu lao dốc, cạnh tranh ngày càng gay gắt và các thị trường nhập khẩu lớn điều chỉnh chính sách. Thực trạng này không chỉ phản ánh khó khăn trước mắt, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cơ cấu ngành lúa gạo theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng.

Tăng lượng nhưng giảm giá trị

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 Việt Nam xuất khẩu khoảng 7,9 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch xấp xỉ 4,1 tỷ USD, giảm 13,1% về lượng và gần 30% về giá trị so với năm 2024. Giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ đạt khoảng 511 USD/tấn, giảm gần 20%, mức giảm sâu hiếm thấy trong nhiều năm trở lại đây.

Điều đáng chú ý là trong bối cảnh này, Việt Nam vẫn giữ vững vị trí quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên, việc giá xuất khẩu giảm mạnh đã khiến toàn ngành thất thu khoảng 1,5 tỷ USD so với năm trước, tác động trực tiếp đến thu nhập của người trồng lúa và hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.

Về thị trường, Philippines tiếp tục là điểm đến lớn nhất của gạo Việt Nam, chiếm khoảng 38 – 42% kim ngạch xuất khẩu. Song, giá trị xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm đáng kể khi Philippines điều chỉnh chính sách nhập khẩu, từng bước gia tăng tự chủ nguồn cung nhằm bảo đảm an ninh lương thực trong nước. Indonesia cũng có xu hướng tương tự, siết chặt nhập khẩu để bảo vệ sản xuất nội địa.

Nhiều địa phương đã hình thành vùng sản xuất lúa tập trung, chất lượng cao. Ảnh: Phong Đỗ

Nhiều địa phương đã hình thành vùng sản xuất lúa tập trung, chất lượng cao. Ảnh: Phong Đỗ

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu gạo sang một số thị trường châu Phi như Ghana, Bờ Biển Ngà ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, đây chủ yếu là các thị trường nhạy cảm về giá, quy mô chưa lớn và tập trung vào phân khúc gạo trung bình, thấp, nên chưa đủ khả năng bù đắp sự suy giảm từ các thị trường truyền thống.

Diễn biến trên phản ánh bức tranh chung của thị trường gạo thế giới trong năm 2025. Chỉ số giá gạo FAO giảm gần 20%, có thời điểm xuống mức thấp nhất kể từ cuối năm 2021. Theo các chuyên gia, nguyên nhân chủ yếu đến từ nguồn cung toàn cầu dư thừa khi nhiều quốc gia xuất khẩu lớn đồng loạt gia tăng sản lượng.

Đặc biệt, Ấn Độ – quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới – đã xuất khẩu tới 21,55 triệu tấn gạo trong năm 2025, tăng gần 20% so với năm trước, tiến sát mức kỷ lục lịch sử. Việc dỡ bỏ toàn bộ các biện pháp hạn chế xuất khẩu giúp gạo Ấn Độ quay trở lại thị trường với giá cạnh tranh, tạo áp lực rất lớn lên các nước xuất khẩu trong khu vực, trong đó có Việt Nam và Thái Lan.

Gạo Việt Nam đã có mặt tại khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ảnh: Phong Đỗ

Gạo Việt Nam đã có mặt tại khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ảnh: Phong Đỗ

Theo dự báo của FAO, sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025 – 2026 đạt mức kỷ lục 556,4 triệu tấn, trong khi tiêu thụ chỉ khoảng 550,8 triệu tấn, khiến tồn kho cuối vụ tăng lên 215,6 triệu tấn. Riêng Ấn Độ đang nắm giữ lượng tồn kho hơn 57 triệu tấn, tiếp tục tạo áp lực giảm giá lên thị trường gạo thế giới trong trung hạn.

Trong bối cảnh đó, thị trường lúa gạo trong nước cũng diễn biến chậm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến giữa tháng 1-2026, giá lúa và gạo trong nước gần như “đi ngang”, giao dịch cầm chừng, phản ánh tâm lý thận trọng của thương lái khi giá xuất khẩu chưa có tín hiệu phục hồi rõ ràng. Trên thị trường quốc tế, gạo Việt Nam 5% tấm và gạo thơm phổ biến ở mức 420 – 450 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Nhận diện điểm nghẽn, tái cơ cấu để nâng giá trị xuất khẩu

Thực tiễn xuất khẩu gạo năm 2025 cho thấy những khó khăn của ngành không chỉ mang tính chu kỳ, mà còn bắt nguồn từ các điểm nghẽn mang tính cơ cấu.

Từ thực tế có thể thấy mô hình tăng trưởng của xuất khẩu gạọ dựa chủ yếu vào sản lượng vẫn là hạn chế lớn. Trong nhiều năm, ngành lúa gạo tập trung giữ thị phần bằng cách gia tăng khối lượng xuất khẩu, trong khi chất lượng, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu chưa theo kịp. Khi giá gạo thế giới giảm sâu, hạn chế này bộc lộ rõ, khiến kim ngạch sụt giảm mạnh dù sản lượng vẫn cao. Ngoài ra, sự phụ thuộc vào một số thị trường lớn như Philippines, Indonesia khiến xuất khẩu gạo dễ bị tổn thương trước những thay đổi chính sách. Khi các thị trường này tăng cường tự chủ nguồn cung, dư địa xuất khẩu của gạo Việt Nam lập tức bị thu hẹp.

Đặc biệt, theo các chuyên gia phân tích, liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa gạo còn lỏng lẻo, chi phí đầu vào tăng cao, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải.

Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) Lê Thanh Tùng cho rằng, trong bối cảnh một số thị trường xuất khẩu lớn dần tự chủ nguồn cung, đa dạng hóa thị trường là hướng đi chiến lược để duy trì vị thế và ổn định xuất khẩu dài hạn. Thực tế cho thấy, trong 5 – 7 năm qua, gạo Việt Nam đã có mặt tại khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là lợi thế quan trọng nếu chúng ta biết khai thác hiệu quả.

Ở góc độ quản lý nhà nước, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) Nguyễn Anh Sơn phân tích: Bối cảnh kinh tế – thương mại toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, xu hướng bảo hộ gia tăng, các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn thực phẩm ngày càng chặt chẽ. Điều này đòi hỏi ngành gạo phải nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.

Một hướng đi được kỳ vọng tạo đột phá là chuyển dịch sang sản xuất gạo chất lượng cao, phát thải thấp. Chương trình 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp giai đoạn 2026 – 2030 với sự đồng hành của FAO, ADB và các đối tác quốc tế, được xem là nền tảng quan trọng để tái cấu trúc ngành lúa gạo theo hướng hiện đại, bền vững.

Song song với đó, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng mở ra không gian xuất khẩu. Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Israel (VIFTA), có hiệu lực từ cuối năm 2024, được kỳ vọng sẽ giúp gạo Việt Nam từng bước thâm nhập sâu hơn vào thị trường có tiêu chuẩn cao. Dù thị phần hiện mới chỉ chiếm khoảng 2 – 3%, song Israel là thị trường có nhu cầu nhập khẩu ổn định, trị giá 120 – 150 triệu USD/năm, mang ý nghĩa chiến lược về mặt hình ảnh và chất lượng.

Nhiều chuyên gia cho rằng, về dài hạn, ngành lúa gạo Việt Nam cần thoát khỏi vòng luẩn quẩn “tăng lượng – giảm giá – sụt kim ngạch”, chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân, từ quy hoạch vùng trồng, tổ chức lại sản xuất, đầu tư chế biến sâu đến xây dựng thương hiệu gạo quốc gia.

Bức tranh xuất khẩu gạo năm 2025, dù còn nhiều thách thức, song cũng là phép thử cần thiết để ngành lúa gạo nhìn lại mô hình phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, tái cơ cấu chuỗi giá trị, chuyển đổi xanh và đa dạng hóa thị trường không còn là lựa chọn, mà là con đường tất yếu để gạo Việt Nam giữ vững vị thế và phát triển bền vững...

Đỗ Minh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/xuat-khau-gao-viet-nam-ap-luc-ngan-han-va-yeu-cau-tai-co-cau-cho-tang-truong-ben-vung-729929.html