10 kết quả nổi bật của giáo dục Bắc Ninh từ Nghị quyết 71
Ngành GD&ĐT Bắc Ninh ghi nhận nhiều kết quả nổi bật về cơ chế, chính sách, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo dục...

Ông Mai Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Bắc Ninh trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND TP cho tập thể Sở GD&ĐT.
Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) Bắc Ninh ghi nhận nhiều kết quả nổi bật về cơ chế, chính sách, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo dục, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực.
Trong đó, 10 kết quả tiêu biểu là minh chứng cho những nỗ lực đổi mới, tạo nền tảng và động lực phát triển GD&ĐT Bắc Ninh trong giai đoạn mới.
1. Đột phá về cơ chế, chính sách phát triển GD&ĐT
Bắc Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 06-CTr/TU, Kế hoạch số 170/KH-UBND, 11 nghị quyết của HĐND và 7 văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời triển khai 11 kế hoạch, đề án của UBND về các cơ chế, chính sách đặc thù trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Tổng kinh phí thực hiện các cơ chế, chính sách dành cho giáo dục bình quân khoảng 12.732 tỷ đồng/năm, tạo nguồn lực thúc đẩy đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục.
2. Đầu tư gần 54.000 tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất phát triển giáo dục giai đoạn 2026 - 2030
Tổng kinh phí thực hiện: 53.939,7 tỷ đồng giai đoạn 2026-2030 (Quyết định số 597/QĐ-UBND ngày 08/4/2026). Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển mạng lưới trường lớp đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
3. Hơn 516.000 trẻ mầm non và học sinh tiểu học được uống sữa hàng ngày tại trường.
Theo Nghị quyết số 31/2025/NQ-HĐND, có 1.302 cơ sở giáo dục với 516.057 trẻ mầm non và học sinh tiểu học được thụ hưởng chính sách sữa học đường.
Kinh phí thực hiện bình quân khoảng 384 tỷ đồng/năm. Chính sách góp phần cải thiện dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện để trẻ em phát triển toàn diện.
4. Giáo dục mũi nhọn khẳng định vị thế tốp đầu cả nước, tỏa sáng trên đấu trường Olympic quốc tế
Học sinh Bắc Ninh giành 6 lượt giải tại các kỳ thi Olympic khu vực và quốc tế, gồm 1 Huy chương Vàng, 5 Huy chương Bạc; xếp thứ hai toàn quốc, sau Hà Nội.
Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT, địa phương đạt 174 giải, gồm 10 giải Nhất, 58 giải Nhì, 52 giải Ba và 54 giải Khuyến khích, xếp thứ 6 toàn quốc về tổng số giải và thứ 4 về số giải Nhất.
Trong thể thao học sinh phổ thông toàn quốc năm 2026, Bắc Ninh giành 44 huy chương, gồm 17 Huy chương Vàng, 15 Huy chương Bạc và 12 Huy chương Đồng. Môn điền kinh xếp thứ nhất, cầu lông xếp thứ nhì toàn quốc về số huy chương. Địa phương cũng giành giải Ba toàn đoàn tại Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc.

Chủ tịch UBND TP Bắc Ninh Phạm Hoàng Sơn trao thưởng cho các giáo viên, học sinh có thành tích xuất sắc.
Những kết quả này tiếp tục khẳng định chất lượng giáo dục mũi nhọn, đồng thời cho thấy sự phát triển của giáo dục thể chất và giáo dục toàn diện.
5. Chất lượng giáo dục đại trà tiếp tục được khẳng định, ghi dấu ấn với thủ khoa duy nhất đạt điểm tuyệt đối
Tại kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có 10/12 môn thi của Bắc Ninh nằm trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước.
Đáng chú ý, địa phương có thủ khoa duy nhất toàn quốc đạt 30/30 điểm ở tổ hợp A00 và 2 á khoa tổ hợp B00 cùng đạt 29,75 điểm.
Kết quả phản ánh những chuyển biến tích cực trong nâng cao chất lượng dạy học, góp phần củng cố nền tảng giáo dục đại trà và phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng lực nổi trội.
6. Đột phá phát triển giáo dục STEM/STEAM, ghi dấu ấn cuộc thi nghiên cứu khoa học cấp quốc gia
Bắc Ninh phê duyệt Đề án phát triển giáo dục STEM/STEAM theo Quyết định số 1061/QĐ-UBND ngày 31/7/2026, với tổng kinh phí dự kiến khoảng 1.234,538 tỷ đồng.
Tại Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia, học sinh của địa phương giành 5 giải, gồm 1 giải Nhất, 1 giải Nhì, 1 giải Ba và 2 giải Tư, xếp thứ 5 toàn quốc.
Việc đầu tư phát triển STEM/STEAM gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học góp phần khơi dậy tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh.
7. Công tác sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng
Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên được triển khai theo kế hoạch, bảo đảm yêu cầu về tiến độ và chất lượng.
Sau sắp xếp, số đầu mối giảm 572, tương đương 50,2%, từ 1.140 xuống còn 568 cơ sở giáo dục.
Kết quả này hướng tới tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo đảm điều kiện dạy học, quyền lợi của người học và chất lượng giáo dục tại các cơ sở.

8. Kết quả phổ cập giáo dục các cấp học và xóa mù chữ được củng cố vững chắc trên toàn địa bàn thành phố
Toàn bộ 99/99 xã, phường duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; phổ cập giáo dục tiểu học, THCS mức độ 3 và xóa mù chữ mức độ 2.
Bắc Ninh đồng thời triển khai lộ trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, phấn đấu toàn địa phương đạt chuẩn vào năm 2028.
Kết quả góp phần duy trì thành quả phổ cập, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và tạo nền tảng nâng cao dân trí.
9. Tiên phong chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục
Bắc Ninh triển khai thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học môn Toán tại 21 trường THPT, với hơn 37.000 học sinh; dự kiến triển khai diện rộng từ năm học 2026–2027.
Cùng với đó, giáo dục AI được thí điểm tại 12 trường thuộc 3 cấp học, với 264 lớp và 13.548 học sinh. Ngành Giáo dục cũng tổ chức tập huấn cho 690 cán bộ quản lý, giáo viên.
Trong quản lý, 697.192 học sinh, học viên đã được tạo lập học bạ số, đạt tỷ lệ 99,35%; 841.564 văn bằng, chứng chỉ được số hóa, đạt 100%.
Các kết quả bước đầu tạo nền tảng đổi mới phương pháp dạy học, hiện đại hóa quản trị và thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái giáo dục số.
10. Đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Bắc Ninh hiện có 11 cơ sở đào tạo đại học với hơn 23.600 sinh viên; 30 trường cao đẳng có năng lực tuyển sinh trên 12.775 sinh viên cao đẳng và 33.630 học sinh trung cấp mỗi năm.
Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và giáo dục đại học góp phần cung ứng nhân lực cho doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh địa phương đẩy mạnh phát triển công nghiệp công nghệ cao.
Thời gian tới, việc gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, tăng cường kỹ năng nghề và năng lực công nghệ sẽ là những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tại hội nghị tổng kết năm học 2025 - 2026; triển khai nhiệm vụ năm học 2026 - 2027, tập thể Sở GD&ĐT và 3 cá nhân thuộc Sở GD&ĐT vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; nhiều tập thể, cá nhân, học sinh có thành tích xuất sắc được UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh và Giám đốc Sở GD&ĐT khen thưởng.

