10 năm Chương trình FFF: Gắn phát triển rừng, sản xuất hữu cơ với sinh kế bền vững

Hơn 20.000 người hưởng lợi, thu nhập thành viên tăng 15 - 30% là những kết quả nổi bật của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Hội thảo tổng kết 10 năm chương trình đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực tổ chức của nông dân, phát triển sản xuất hữu cơ và kết nối nguồn lực cho sinh kế bền vững.

Toàn cảnh hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam, tổ chức ngày 9/10/2026 tại Hà Nội.

Toàn cảnh hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam, tổ chức ngày 9/10/2026 tại Hà Nội.

Ngày 9/10/2026, tại Khách sạn Quân đội, Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tổ chức hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại tại Việt Nam.

Hội thảo hướng tới đánh giá kết quả, chia sẻ kinh nghiệm, tôn vinh mô hình hiệu quả và xác định hướng phát triển rừng, trang trại gắn với sinh kế bền vững, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu. Một nhiệm vụ xuyên suốt là kết nối đối tác, nguồn lực và đề xuất chính sách hỗ trợ các tổ chức người sản xuất rừng và trang trại cùng cộng đồng phụ thuộc vào rừng.

Đồng chủ trì có ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam; bà Sophie Grouwels, chuyên gia lâm nghiệp FAO, Điều phối viên FFF toàn cầu.

Ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Quang Lịch

Ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Quang Lịch

Nâng cao năng lực tổ chức, đưa nông dân tham gia chuỗi giá trị

Phát biểu khai mạc tại Hội Thảo, ông Nguyễn Xuân Định nhấn mạnh sự trưởng thành của các tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX) và hộ sản xuất: từ hoạt động riêng lẻ đến liên kết, tham gia chuỗi giá trị và đối thoại chính sách. Ông đề cập vai trò của Hội trong hỗ trợ nông dân sử dụng bền vững đất, nước, rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, sản xuất hữu cơ, tuần hoàn và tiếp cận công nghệ, vốn, thị trường.

Chương trình cũng góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ, thanh niên, người dân tộc thiểu số và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội.

Theo cách tiếp cận của FFF, tổ chức người sản xuất rừng và trang trại là chủ thể quan trọng trong cải thiện sinh kế và tăng khả năng chống chịu của cảnh quan trước biến đổi khí hậu. Hỗ trợ được thực hiện thông qua tài chính, tư vấn kỹ thuật, đào tạo phân tích thị trường, phát triển kinh doanh và trao đổi kinh nghiệm. Phụ nữ, thanh niên và cộng đồng bản địa được chú trọng trong quá trình này.

Việc cùng tham gia tổ chức sản xuất tạo điều kiện để các hộ chia sẻ kiến thức, xây dựng hoạt động kinh doanh, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực quản lý tài nguyên. Từ cách tiếp cận đó có thể thấy, sức mạnh của hợp tác xã nằm cả ở khả năng tập hợp nhu cầu của thành viên và tổ chức những dịch vụ mà từng hộ khó tự thực hiện.

Cũng tại hội thảo, Bà Nguyễn Thị Việt Hà, Phó Trưởng Ban Công tác Nông dân Trung ương Hội, nguyên Giám đốc FFF II, trình bày báo cáo tổng kết.

Đến tháng 6/2026, FFF hỗ trợ củng cố, phát triển hoặc thành lập 56 tổ hợp tác, hợp tác xã tại bốn tỉnh, với 912 hộ thành viên chính thức, hơn 4.000 hộ liên kết và hơn 20.000 người hưởng lợi. Tỷ lệ tham gia được báo cáo ghi nhận gồm 41,5% nữ, 61,5% người dân tộc thiểu số và 11,7% thanh niên.

Kết quả kinh doanh ghi nhận 29 tổ hợp tác, hợp tác xã tăng lợi nhuận và phân chia cho thành viên; 41 đơn vị có hoạt động tạo giá trị mới hoặc tăng thu nhập; 28 hợp tác xã tiếp cận bán hàng trực tiếp, thương mại điện tử. Tám mô hình chuỗi giá trị được hình thành; thu nhập thành viên tăng 15–30%.

Một trường hợp được FAO giới thiệu tháng 2/2026 là Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Bình Minh. Từ nhóm hộ trồng keo bán gỗ riêng lẻ, đơn vị từng bước hình thành tổ chức hợp tác, tiếp cận chứng chỉ FSC và liên kết với doanh nghiệp chế biến.

FAO ghi nhận việc có chứng chỉ giúp người trồng rừng trong mô hình bán gỗ với mức giá cao hơn khoảng 10–15%. Các quan hệ hợp tác với doanh nghiệp cũng giúp tăng khả năng thương lượng, giảm phụ thuộc vào trung gian và tiếp cận thị trường lớn hơn. Hội Nông dân Việt Nam và FFF đóng vai trò hỗ trợ tổ chức nhóm, xây dựng lòng tin, đào tạo, kết nối chứng nhận và doanh nghiệp.

Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam đánh giá cao sự đồng hành của Hội Nông dân Việt Nam và thành quả FFF. Ảnh: Quang Lịch

Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam đánh giá cao sự đồng hành của Hội Nông dân Việt Nam và thành quả FFF. Ảnh: Quang Lịch

Sản xuất hữu cơ và sinh kế đa dạng dưới tán rừng

FFF hỗ trợ hơn 14.000 ha rừng có chứng chỉ FSC, đồng thời thúc đẩy phát triển quế, chè hữu cơ, kết hợp PGS và bản đồ số. Về sản xuất nông nghiệp, báo cáo nêu kết quả “hơn 14.000 ha quế hữu cơ, rau củ quả hữu cơ và VietGAP”.

Chương trình có 54 lớp tập huấn sản xuất hữu cơ, PGS cho 1.150 nông dân, xây dựng 61 mô hình bưởi, rau, lúa, dược liệu, chè… Hoạt động đào tạo còn có 27 hội thảo tập huấn với 882 cán bộ, thành viên.

Hơn 40.000 ha rừng, trang trại được hỗ trợ các biện pháp giảm nhẹ, thích ứng với biến đổi khí hậu. Diện tích này tương ứng 20% diện tích địa bàn được báo cáo.

Đối với sản xuất hữu cơ quy mô hộ, Hệ thống bảo đảm cùng tham gia (PGS) có ý nghĩa trong việc tổ chức cộng đồng sản xuất và xây dựng niềm tin thị trường. Theo IFOAM - Organics International, PGS là hệ thống bảo đảm chất lượng tập trung ở địa phương, dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan, nền tảng tin cậy, mạng lưới cộng đồng và trao đổi kiến thức.

Từ đặc điểm đó, áp dụng PGS đòi hỏi sự phối hợp thường xuyên giữa những người tham gia. Đây cũng là cơ sở để gắn việc học kỹ thuật với giám sát thực hành và trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm. Trong một tổ hợp tác hoặc hợp tác xã, hoạt động bảo đảm chất lượng cần được duy trì cùng với quản trị sản xuất và kết nối khách hàng.

Kinh nghiệm FFF tại Việt Nam được FAO công bố năm 2024 cho thấy chương trình đã thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm, phát triển lâm sản ngoài gỗ như quế, hồi, dược liệu, sản phẩm tre và rau hữu cơ. Cách làm này gắn với phát triển rừng gỗ lớn, kéo dài chu kỳ trồng rừng, đồng thời tạo nguồn thu bổ sung cho hộ sản xuất.

Đa dạng hóa sinh kế có ý nghĩa thực tế đối với người trồng rừng: nguồn thu từ các hoạt động phù hợp trong thời gian chờ khai thác có thể giúp hộ gia đình duy trì đầu tư dài hạn. Tuy nhiên, lựa chọn cây trồng, vật nuôi và cách kết hợp cần phù hợp điều kiện sinh thái, khả năng quản lý và nhu cầu thị trường của từng mô hình.

Trong báo cáo FFF năm 2022, FAO nêu trường hợp Hợp tác xã bưởi Tân Đông tại Tân Lạc, Hòa Bình thời điểm đó. Hỗ trợ phân tích thị trường và kết nối các bên góp phần khôi phục hoạt động PGS Tân Lạc, thu hút những nông dân từng ngừng canh tác hữu cơ quay trở lại. Thành viên thử trồng xen dược liệu, cây họ đậu và rau dưới tán bưởi để đa dạng nguồn thu.

Cũng trong báo cáo này, Hợp tác xã Hữu cơ công nghệ cao Hải Đăng tại Hòa Bình phát triển chăn nuôi dưới rừng keo và sản xuất nấm; huy động vốn thành viên cho cơ sở giết mổ, tìm hiểu thị trường và giám sát chéo chất lượng. Những trường hợp được ghi nhận từ năm 2022 cho thấy mối liên hệ giữa tổ chức sản xuất, bảo đảm chất lượng và đầu ra.

FFF hỗ trợ 38 mô hình bảo tồn văn hóa bản địa, giống cây quý hiếm gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm.

Hơn 400 đại biểu được cử tham gia diễn đàn quốc tế; Hội nghị toàn cầu “Hãy bảo vệ tương lai của chúng ta” có hơn 60 đại biểu từ 28 quốc gia.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình FFF tại Việt Nam. Ảnh: Quang Lịch

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình FFF tại Việt Nam. Ảnh: Quang Lịch

Kết nối nguồn lực, đưa kinh nghiệm vào chương trình phát triển

Tại hội thảo, HTX Bình Minh và HTX Yến Dương (Thái Nguyên) chia sẻ kinh nghiệm liên kết, tăng giá trị nông lâm sản, thích ứng khí hậu.

Hội Nông dân Lào Cai nêu các mô hình HTX Quế Hồi Việt Nam, HTX Nông lâm nghiệp Bình Minh, liên kết 22 THT quế hữu cơ và 31 nhóm hộ trồng rừng FSC.

Rừng FSC tại tỉnh vượt 12.000 ha; HTX Bình Minh phối hợp đánh giá, cấp chứng chỉ 7.856 ha. Gỗ có chứng chỉ tăng giá trị khoảng 10% so với thông thường.

Đại biểu đề nghị tăng năng lực người dân, gắn HTX với thị trường, duy trì đối thoại.

Ông Nguyễn Xuân Định – Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam tri ân các cá nhân, tập thể đóng góp vào thành công của Chương trình FFF. Ảnh: Quang Lịch.

Ông Nguyễn Xuân Định – Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam tri ân các cá nhân, tập thể đóng góp vào thành công của Chương trình FFF. Ảnh: Quang Lịch.

Một trọng tâm trong chương trình hội thảo là xác định ưu tiên đầu tư và huy động nguồn lực từ các kết quả của giai đoạn II. Nội dung làm việc đặt ra yêu cầu kết nối nhà tài trợ, bộ, ngành, đối tác phát triển, tổ chức tài chính, doanh nghiệp, đơn vị kỹ thuật với Hội Nông dân, hợp tác xã và chính quyền địa phương.

Bà Sophie Grouwels điều phối thảo luận huy động nguồn lực, mở rộng hợp tác giữa nhà tài trợ, bộ, ngành, tài chính, doanh nghiệp, Hội Nông dân.

Cách bố trí thảo luận theo các nhóm đối tác hướng tới làm rõ nhu cầu, khả năng hỗ trợ và trách nhiệm của từng bên. Với hợp tác xã, vấn đề cần xác định là giải pháp nào phù hợp với điều kiện của mình, hành động nào cần thực hiện trước, ai chủ trì và cần hỗ trợ kỹ thuật, tài chính ở mức nào. Đây là những câu hỏi quan trọng để chuyển một mô hình được giới thiệu thành kế hoạch có thể triển khai.

Nội dung chia sẻ kinh nghiệm trong chương trình gồm kết quả FFF tại Lào Cai; ứng dụng PGS, tiêu chuẩn hữu cơ và bản đồ số của Viện Quản lý Đất đai và Phát triển nông thôn (CLARD); ứng dụng iTwood, mã số vùng trồng rừng của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp (FEREC) trong tổ chức chuỗi cung ứng gỗ hợp pháp, hướng tới đáp ứng yêu cầu chống phá rừng của thị trường châu Âu.

Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam tri ân các cá nhân đóng góp vào thành công của Chương trình FFF tại Việt Nam. Ảnh: Quang Lịch

Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam tri ân các cá nhân đóng góp vào thành công của Chương trình FFF tại Việt Nam. Ảnh: Quang Lịch

Các nhóm giải pháp nông lâm kết hợp, PGS, công cụ số và tín dụng xanh được đưa vào nội dung lựa chọn, đánh giá khả năng áp dụng. Chương trình cũng đặt vấn đề lồng ghép kinh nghiệm vào kế hoạch phát triển địa phương, xây dựng nông thôn mới và các chương trình lâm nghiệp bền vững; xác định rào cản chính sách, thể chế cần tháo gỡ để nhân rộng mô hình.

Trong 10 năm, chương trình tổ chức hơn 100 hội thảo, diễn đàn, hội nghị bàn tròn; phổ biến 26 chính sách và tạo điều kiện đề xuất, giải quyết 19 vấn đề thực tiễn về đất, rừng, vốn, sản phẩm, hạ tầng. Các hoạt động này tạo hơn 50 cơ hội tham gia vận động chính sách cấp huyện, tỉnh.

Ứng dụng iTwood, mã số vùng trồng rừng và tiêu chuẩn hữu cơ, PGS là những nội dung đã được đưa vào trao đổi về phát triển chuỗi cung ứng. Định hướng tiếp theo còn có chuẩn bị tham gia thị trường carbon.

Ông Nguyễn Xuân Định trao Kỷ niệm chương Vì giai cấp Nông dân Việt Nam cho bà Sophie Grouwels. Ảnh: Quang Lịch

Ông Nguyễn Xuân Định trao Kỷ niệm chương Vì giai cấp Nông dân Việt Nam cho bà Sophie Grouwels. Ảnh: Quang Lịch

Tại hội thảo, các cá nhân, tập thể đóng góp cho FFF được tri ân; ông Nguyễn Xuân Định trao Kỷ niệm chương Vì giai cấp Nông dân Việt Nam cho bà Sophie Grouwels và các cá nhân có đóng góp cho giai cấp nông dân.

Với các mô hình hữu cơ, việc nhân rộng cần giữ được sự tham gia của thành viên và khả năng bảo đảm chất lượng. Với người trồng rừng, liên kết với doanh nghiệp cần giúp hình thành đầu ra và cơ sở đầu tư dài hạn. Khi các tổ chức sản xuất đủ năng lực duy trì những mối liên kết này, thành quả của FFF có thêm điều kiện tiếp tục phát triển, gắn bảo vệ tài nguyên với thu nhập và sinh kế của cộng đồng.

Phạm Thông

[email protected]

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/10-nam-chuong-trinh-fff-gan-phat-trien-rung-san-xuat-huu-co-voi-sinh-ke-ben-vung-17772.html