10 năm hành trình vì loài voi

Đã có những tiến bộ trong việc bảo vệ và nuôi dưỡng loài voi một cách hài hòa giữa thiên nhiên và con người.

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới tổ chức sự kiện “Hành trình vì loài voi tại Việt Nam: 10 năm bứt phá để vươn xa” nhằm tổng kết quá trình triển khai Đề án Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2015–2025, đồng thời chia sẻ những kết quả nổi bật từ các sáng kiến triển khai tại tỉnh Đồng Nai – một minh chứng cho hướng tiếp cận bảo tồn dựa trên bằng chứng khoa học và chung sống hài hòa giữa người và voi.

Các đại biểu tham dự sự kiện

Từ hàng nghìn cá thể được ghi nhận vào những năm 1980, quần thể voi châu Á tại Việt Nam đã suy giảm mạnh xuống mức báo động, hiện ước tính chỉ còn dưới 200 cá thể voi hoang dã, phân bố rải rác tại một số tỉnh.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, ngày 21/5/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 763/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giai đoạn 2013–2020”, điều chỉnh thời gian thực hiện đến năm 2025 tại Quyết định số 413/QĐ-TTg ngày 31/3/2022. Đề án xác định các nhóm nhiệm vụ trọng tâm như: phòng ngừa và ngăn chặn săn bắt, xâm hại voi; tăng cường thực thi pháp luật và kiểm soát buôn bán trái phép ngà voi; quy hoạch vùng ưu tiên bảo tồn; bảo vệ sinh cảnh và giảm thiểu xung đột voi–người, gắn bảo tồn với phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.

Sau 10 năm triển khai, công tác bảo tồn voi ở Việt Nam đã từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên kinh nghiệm sang cách tiếp cận dựa trên bằng chứng và cơ sở khoa học. Một dấu mốc quan trọng là từ năm 2019, chương trình thí điểm bảo tồn voi theo hướng “chung sống hài hòa” được triển khai tiên phong tại tỉnh Đồng Nai với ba sáng kiến: giám sát voi bằng bẫy ảnh; giám sát xung đột voi–người theo quy trình chuẩn hóa; và khảo sát phân bố voi theo ô lưới nhằm làm rõ vùng sống và hành lang di chuyển.

Từ năm 2022 đến nay, khoảng 150 bẫy ảnh đã được lắp đặt liên tục trong hơn gần 1300 ngày đêm (Đồng Nai) và một số tỉnh có voi khác, thu về hơn hàng triệu bức hình, trong đó có hơn 50.000 ảnh và video về voi. Trên cơ sở đó, bộ hồ sơ nhận dạng cá thể (“ID cards”) được xây dựng dựa trên các đặc điểm hình thái như tai, ngà, sẹo, đuôi…, giúp định dạng được từng cá thể nhằm giúp cho các tỉnh có voi hiểu rõ từng cá thể, cấu trúc đàn, xu hướng di chuyển, các mối đe dọa góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn voi.

Một điểm đáng khích lệ vào những ngày cuối năm 2025, việc phân tích dữ liệu giám sát voi tại Đồng Nai đã ghi nhận 5 cá thể voi con sinh ra trong giai đoạn 2023–2024, mang lại tín hiệu tích cực cho triển vọng phục hồi tự nhiên của quần thể voi tại địa phương.

Loài voi sống hài hòa giữa thiên nhiên đã được bảo vệ và giám sát (Ảnh AAF)

Bên cạnh việc làm rõ cấu trúc đàn và xu hướng di chuyển, dữ liệu chuẩn hóa về xung đột voi–người đã giúp các cơ quan quản lý và lực lượng tại chỗ hiểu sâu hơn về thời điểm, vị trí, nguyên nhân và mức độ xung đột, qua đó chuyển từ phản ứng tình huống sang quản lý thích ứng dựa trên dữ liệu. Các kết quả bước đầu cho thấy, việc thay thế các biện pháp xua đuổi mang tính đối đầu bằng các giải pháp dựa trên hiểu biết về nhu cầu, tập tính và vùng hoạt động của từng cá thể voi là hướng đi phù hợp để giảm nguy cơ leo thang xung đột và tăng cường an toàn cho cả cộng đồng và voi.

Từ thực tiễn 10 năm triển khai, một bài học nhất quán được rút ra là: bảo tồn voi hoang dã bền vững cần đồng thời giải quyết ba “nút thắt” cốt lõi gồm: dữ liệu và giám sát đáng tin cậy; bảo vệ và kết nối sinh cảnh; và giảm thiểu xung đột voi–người theo hướng nhân văn, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, địa phương, các tổ chức bảo tồn và cộng đồng.

Việc tổ chức sự kiện được Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm phối hợp với Tổ chức Humane World for Animals (HWA), Tổ chức Word Wild Fund (WWF) và Tổ chức Animals Asia Foundation (AAF), có sự tham gia của đại diện các tỉnh có voi phân bố.

Ông Đoàn Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, chia sẻ: “Mười năm nhìn lại không chỉ là những con số hay những mốc công việc, mà là hành trình của trách nhiệm và niềm tin, được xây đắp bởi nỗ lực của các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm, các nhà khoa học, các tổ chức bảo tồn và cộng đồng tại những vùng có voi.

Trên nền tảng các kết quả đã đạt được và bài học thực tiễn, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp theo hướng khoa học và phù hợp điều kiện địa phương, đặt trọng tâm theo hướng tiếp cận cảnh quan và bảo vệ sinh cảnh, giảm thiểu xung đột voi–người và tăng cường phối hợp liên ngành, để hành trình vì loài voi Việt Nam bước sang giai đoạn mới – quyết liệt hơn, đồng bộ hơn và bền vững hơn.”

Ông Đoàn Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Ảnh AAF)

Từ những tín hiệu tích cực tại Đồng Nai, địa phương này được kỳ vọng tiếp tục là mô hình tiên phong để hoàn thiện các giải pháp bảo tồn dựa trên dữ liệu, làm cơ sở tham chiếu cho việc nhân rộng sang các tỉnh khác, hướng tới mục tiêu dài hạn là một tương lai nơi con người và voi hoang dã có thể chung sống an toàn, ổn định và bền vững trong cùng một cảnh quan rừng".

Tuấn Ngọc

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/10-nam-hanh-trinh-vi-loai-voi.html