100 ngày chiến sự Iran đã gây tổn thất gì cho Lầu Năm Góc, nền kinh tế Mỹ và cả Tổng thống Trump?
Theo ước tính của CNN, Mỹ đã chịu thiệt hại khổng lồ sau 100 ngày chiến sự với Iran, không chỉ riêng về khía cạnh kinh tế.

Theo CNN, chiến tranh Mỹ-Iran đã khiến mức độ tín nhiệm dành cho Tổng thống Trump suy giảm, đồng thời tác động lên các khía cạnh kinh tế khác.
Cụ thể, tỷ lệ ủng hộ đối với Tổng thống Trump tiếp tục đi xuống, mặc dù tỷ lệ này đã rất thấp ở mức 38% vào tháng 2, trước khi chiến sự nổ ra. Theo CNN Poll of Polls, tỷ lệ này đã giảm xuống 37% tính tới ngày 15/6.
Người dân Mỹ cũng đánh giá thấp cách Tổng thống Trump xử lý xung đột và vận hành nền kinh tế. Theo khảo sát của Fox News, chỉ có 31% cử tri đã đăng ký tán thành cách ông điều hành kinh tế và 35% tán thành cách xử lý vấn đề Iran.
Bên cạnh đó, sau hơn 100 ngày giao tranh khiến 13 quân nhân Mỹ và hơn 7.500 dân thường trong khu vực thiệt mạng, cuộc chiến giữa Mỹ và Iran đã tạm dừng với một thỏa thuận vừa được ký kết, trong đó riêng chi phí trực tiếp mà Lầu Năm Góc gánh chịu ước tính khoảng 40 tỷ USD.
Tuy nhiên, những tác động lan tỏa của cuộc chiến lên giá năng lượng, lạm phát và thị trường tài chính sẽ tiếp tục tác động lên đời sống kinh tế Mỹ trong thời gian tới.
Chi phí quân sự trực tiếp khoảng 40 tỷ USD
Theo số liệu sơ bộ từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), cuộc chiến tiêu tốn khoảng 40 tỷ USD từ ngân sách Bộ Quốc phòng Mỹ. Theo ông Mark Cancian, cố vấn cấp cao tại CSIS, con số này bao gồm chi phí đạn dược, thiết bị bị phá hủy, thiệt hại tại các căn cứ và chưa gồm các chi phí vận hành đã được tính trong ngân sách tài khóa 2026 hơn 1.000 tỷ USD của Lầu Năm Góc.
CNN cho biết Lầu Năm Góc đã đề nghị khoản ngân sách bổ sung 80 tỷ USD, trong đó gần 20 tỷ USD liên quan trực tiếp đến các nhu cầu cấp bách từ cuộc chiến tại Iran. Con số này chưa bao gồm chi phí sửa chữa cơ sở vật chất cùng việc đồn trú của Mỹ trong khu vực.
Đạn dược là khoản chi lớn nhất của Mỹ trong chiến sự, rơi vào khoảng 26 tỷ USD. Theo ông Cancian, Mỹ đã sử dụng dày đặc các loại vũ khí tầm xa tinh vi để tấn công Iran, trong đó có khoảng 1.000 tên lửa Tomahawk với giá 2,5 triệu USD/tên lửa.
Cuộc chiến cũng đã tiêu hao đáng kể các kho tên lửa chủ chốt của Mỹ. Đầu tháng 6, Tổng thống Trump đã viện dẫn Đạo luật Sản xuất Quốc phòng nhằm buộc các công ty quốc phòng tăng sản lượng vũ khí.
Chi phí chiến sự hằng ngày giảm dần khi xung đột kéo dài và tần suất không kích cũng như sử dụng vũ khí đắt tiền giảm đi. CSIS ước tính 100 giờ đầu tiên tiêu tốn của Mỹ 3,7 tỷ USD; tới ngày thứ 12, chi phí lũy kế của cuộc chiến rơi vào khoảng 16,5 tỷ USD.
Ngoài Bộ Quốc phòng Mỹ, xung đột còn khiến các cơ quan khác như Bộ An ninh Nội địa và Bộ Cựu chiến binh của nước này tốn khoảng 1 tỷ USD, trong đó khoảng 165 triệu USD liên quan tới "giá nhiên liệu tăng cao".
Thị trường năng lượng Mỹ chao đảo
Tác động rõ nét nhất của cuộc chiến thể hiện ở thị trường năng lượng. Giá xăng tăng mạnh là một hệ quả bất lợi cho Tổng thống Trump – người đặt việc đẩy mạnh khai thác nhiên liệu hóa thạch vào trọng tâm chương trình nghị sự. Cuộc chiến Mỹ-Iran cho thấy, mặc dù là nước sản xuất dầu khí số 1 thế giới, thị trường năng lượng Mỹ vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.
Dưới tác động của chiến sự tại Trung Đông, giá xăng trung bình trên toàn nước Mỹ tăng từ dưới 3 USD/gallon lên hơn 4 USD/gallon trong phần lớn thời gian chiến sự. Ngày 18/6, giá dầu nội địa Mỹ lần đầu xuống dưới mức 4 USD/gallon kể từ ngày 30/3.
Theo công cụ theo dõi chi phí năng lượng của Đại học Brown (Mỹ), trung bình mỗi hộ gia đình Mỹ đã chi thêm hơn 253 USD so với kịch bản không có chiến tranh.
Giá dầu diesel còn tăng mạnh hơn và kéo theo nhiều hệ quả dây chuyền. Trước chiến tranh, giá dầu diesel trung bình khoảng 3,80 USD/gallon; tính tới ngày 15/6, đã vượt 5 USD/gallon, mặc dù đã giảm so với giai đoạn đỉnh điểm. Đại học Brown ước tính người Mỹ đã chi thêm gần 27,1 tỷ USD cho dầu diesel. Chiến tranh cũng đẩy giá phân bón lên cao, có thể tác động lâu dài tới ngành nông nghiệp.

Kho dự trữ dầu chiến lược quốc gia của Mỹ sụt giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1983, thời điểm kho bắt đầu được thiết lập dưới chính quyền của Tổng thống Reagan.
Theo CNN, gần đây kho dự trữ này liên tục bị rút cạn dưới thời chính quyền của Tổng thống Biden (trong xung đột Nga-Ukraine) và chính quyền của Tổng thống Trump (trong cuộc chiến với Iran). Tính tới ngày 12/6, kho còn 340,3 triệu thùng dầu thô, giảm 8,9 triệu thùng so với tuần trước đó.
Trên bình diện toàn cầu, theo Kpler, thế giới mất 1,15 tỷ thùng dầu do gián đoạn nguồn cung từ Trung Đông kéo dài gần bốn tháng. Điều này buộc các quốc gia phải đi tìm nguồn dầu thô thay thế, thông qua việc Venezuela và Brazil tăng sản lượng; Mỹ gửi nhiên liệu máy bay và diesel cho châu Âu và Australia; chính quyền Tổng thống Trump gỡ trừng phạt hàng trăm triệu thùng dầu của Nga và Iran; cũng như nỗ lực của 32 quốc gia phối hợp xả kho dự trữ khẩn cấp lớn nhất trong lịch sử.
Tại Mỹ, trung tâm trung chuyển dầu trọng yếu tại Cushing (bang Oklahoma) chỉ còn 20 triệu thùng dầu; lượng dầu ít ỏi khiến việc bơm dầu qua ống dẫn trở nên khó khăn. Tổng thống Trump thừa nhận thực trạng này tại Hội nghị G7 ở Versailles ngày 17/6, cho biết Mỹ sẽ “cạn kiệt dự trữ dầu trong vòng bốn tuần”.
Lạm phát, tiêu dùng và lãi suất
Trên bình diện vĩ mô, lạm phát là hệ quả đáng chú ý nhất đối với nền kinh tế Mỹ. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, lạm phát hằng năm tại Mỹ vượt 4% lần đầu tiên sau ba năm, chủ yếu do giá năng lượng.
Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 12 tháng tính tới tháng 5/2026 đạt mức 4,2%, so với mức trung bình 10 năm là 3,2%. Con số này gấp đôi ngưỡng mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) kỳ vọng trước khi tiến hành hạ lãi suất.
Đáng chú ý, giá cả tại Mỹ hiện tăng nhanh hơn mức tăng thu nhập bình quân của người dân Mỹ trong năm qua. Mặc dù ông chủ Nhà Trắng từng lập luận giá cả sẽ giảm mạnh và vấn đề “khả năng chi trả” sẽ được giải quyết khi chiến tranh kết thúc, việc lạm phát hạ nhiệt không đồng nghĩa với việc giá cả thực sự giảm.
Niềm tin của người tiêu dùng Mỹ cho thấy một số dấu hiệu cải thiện. Theo khảo sát của Đại học Michigan, chỉ số tâm lý người tiêu dùng tháng 6 tăng khoảng 9% so với tháng 5 sau ba tháng liên tiếp giảm, song vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình 20 năm. Giới quan sát cho rằng, tâm lý bi quan kéo dài nhiều năm chủ yếu bắt nguồn từ các cú sốc giá cả liên tiếp kể từ năm 2020.
Trong khi đó, thị trường chứng khoán đi ngược chiều với tâm lý của người dân Mỹ. Sau khi sụt nhẹ ngay sau ngày chiến sự nổ ra, các chỉ số chứng khoán tiếp tục lập kỷ lục, một phần nhờ các thương vụ IPO lớn từ SpaceX và lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI). Tính tới ngày 18/6, chỉ số S&P 500 tăng 80,48 điểm, tức 1,08% so với mức tiền chiến sự.
Ngược lại, thị trường trái phiếu giảm sâu do lo ngại lạm phát gia tăng. Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm – chỉ số chuẩn ảnh hưởng tới lãi suất vay tiêu dùng, gồm thẻ tín dụng, vay mua ô tô và vay mua nhà – đã lên mức cao nhất hơn trong vòng một năm vào tháng 5 trước khi giảm trở lại.
Lãi suất vay thế chấp tăng theo. Theo công ty Freddie Mac, lãi suất vay mua nhà cố định kỳ hạn 30 năm tại Mỹ ở mức 6,47% trong tuần trước, giảm nhẹ từ mức 6,52% của tuần liền trước nhưng vẫn gần đỉnh của năm 2026.
Thị trường hiện dự báo Fed có thể nâng lãi suất vào cuối năm, sau khi Chủ tịch Kevin Warsh tuyên bố ngân hàng trung ương sẽ mạnh tay hơn để kiềm chế giá cả.













