5 nhóm giải pháp giúp doanh nghiệp nội bứt phá trong chuỗi cung ứng

Dù quy mô xuất khẩu của Việt Nam liên tục bứt phá, nhưng vị thế của khối doanh nghiệp nội địa lại đang có dấu hiệu "lép vế" và sụt giảm độ kết nối trong chuỗi giá trị toàn cầu…

Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn khó "chen chân" được vào chuỗi cung ứng toàn cầu - Ảnh: Vũ Khuê.

Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn khó "chen chân" được vào chuỗi cung ứng toàn cầu - Ảnh: Vũ Khuê.

Tại diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” diễn ra ngày 18/9/2026, TS Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới), đã chỉ ra bức tranh về vị thế của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong hơn ba thập niên mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã từng bước trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Việc tham gia ngày càng sâu vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA), thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu đã góp phần mở rộng nhanh quy mô thương mại.

XUẤT KHẨU TĂNG TRƯỞNG LỚN NHƯNG VỊ THẾ NỘI ĐỊA SUY GIẢM

Theo TS Hương, quy mô thương mại và xuất khẩu của Việt Nam mở rộng nhanh chóng trong giai đoạn 2021–2025 (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ 668,5 tỷ USD lên 930,05 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD năm 2025). Tuy nhiên, sự tăng trưởng này lại chưa đi cùng xu hướng củng cố vị thế cho doanh nghiệp nội. 

Hạn chế lớn nhất thể hiện ở tỷ trọng đóng góp suy giảm. Cụ thể, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực trong nước đã giảm từ 26,4% (năm 2021) xuống chỉ còn 22,7% (năm 2025). Đáng chú ý, riêng trong năm 2025, xuất khẩu của khối nội địa sụt giảm 6,1%, trong khi khu vực FDI lại tăng trưởng mạnh 26,1% và duy trì mức chi phối lên tới 77,3% tổng kim ngạch. 

Không chỉ yếu về mặt con số xuất khẩu, mức độ tham gia và khả năng tạo giá trị của doanh nghiệp Việt cũng rất hạn chế. Theo Báo cáo Viet Nam 2045 “Trading Up in a Changing World” của World Bank, tỷ lệ doanh nghiệp nội địa có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu đã sụt giảm nghiêm trọng từ khoảng 35% (năm 2009) xuống chỉ còn 18% (năm 2023). Hơn nữa, mảng dịch vụ mới chiếm khoảng 12% tổng xuất khẩu và lực lượng lao động kỹ năng cao trong khu vực chế biến, chế tạo chỉ đạt vỏn vẹn khoảng 5%. 

TS Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách. Ảnh: Vũ Khuê.

TS Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách. Ảnh: Vũ Khuê.

Phân tích về nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, TS Hương cho rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở tính thiếu ổn định và chiều sâu trong quan hệ cung ứng. “Một nền kinh tế có thể đạt quy mô xuất khẩu lớn nhờ sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia và mạng lưới sản xuất xuyên biên giới, nhưng điều đó chưa tự động bảo đảm doanh nghiệp trong nước được kết nối sâu hơn hoặc dịch chuyển lên những chức năng có giá trị cao hơn”, bà Hương nhấn mạnh.

Nhiều nghiên cứu cho thấy liên kết giữa khối doanh nghiệp tư nhân trong nước với khu vực FDI chưa tương xứng với quy mô. Theo TS Hương, vấn đề liên kết không nên chỉ dừng ở việc xem xét tỷ lệ mua hàng trong nước. Việc một đầu vào được mua từ doanh nghiệp nội địa chưa phản ánh rõ doanh nghiệp đó đang đảm nhận chức năng nào, sản phẩm có độ phức tạp ra sao, và liệu mối quan hệ đó có giúp doanh nghiệp tích lũy công nghệ, kỹ năng hay năng lực quản trị hay không. Nguyên nhân sâu xa là doanh nghiệp Việt chưa hình thành và duy trì được những quan hệ cung ứng đủ bền vững để tạo ra quá trình học hỏi, tích lũy và nâng cấp năng lực dài hạn. 

Bên cạnh đó, việc phụ thuộc chủ yếu vào lắp ráp theo thiết kế có sẵn, thiếu hụt lực lượng lao động kỹ năng cao và chậm đổi mới hệ thống quản trị dữ liệu, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG) khiến doanh nghiệp nội khó dịch chuyển lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

5 NHÓM NĂNG LỰC CỐT LÕI ĐỂ NÂNG CHẤT DOANH NGHIỆP VIỆT

Để khắc phục các hạn chế và giúp doanh nghiệp nội không bị "lỡ nhịp" trong cuộc đua toàn cầu, TS. Hương đề xuất 5 nhóm năng lực giải pháp mang tính chiến lược mà doanh nghiệp trong nước cần tập trung xây dựng.

Các diễn giả tham gia thảo luận. Ảnh: Vũ Khuê.

Các diễn giả tham gia thảo luận. Ảnh: Vũ Khuê.

Thứ nhất: Nâng cấp năng lực gồm chất lượng, công nghệ, năng suất. Doanh nghiệp không thể dừng lại ở việc gia công theo thiết kế có sẵn. Cần chủ động làm chủ công nghệ, cải tiến quy trình kỹ thuật, nâng cao năng suất để cạnh tranh về chi phí, đồng thời đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực tổ chức nhằm từng bước tham gia vào khâu phát triển sản phẩm. 

Thứ hai: Tối ưu năng lực chi phí, quy mô, độ tin cậy giao hàng. Để trở thành nhà cung ứng chính thức, doanh nghiệp phải đảm bảo sản lượng lớn, tiến độ chính xác và giá thành hợp lý. Điều này đòi hỏi tổ chức lại khâu sản xuất, hoạch định công suất, quản trị tồn kho, hạ tầng logistics và tăng cường khả năng duy trì vận hành khi thị trường biến động.

Thứ ba: Chuẩn hóa năng lực quản trị, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc. Chuyển từ kiểm tra sản phẩm sang kiểm soát toàn bộ quá trình. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu minh bạch, có khả năng kết nối thông tin liên tục từ nguyên liệu đầu vào, quy trình chế biến đến sản phẩm đầu ra. 

Thứ tư: Đáp ứng năng lực môi trường, carbon và trách nhiệm xã hội. Phát triển bền vững và tiêu chuẩn ESG đã trở thành "tấm vé" bắt buộc để truy cập các thị trường lớn. Doanh nghiệp cần đo lường, kiểm soát phát thải carbon, sử dụng tiết kiệm năng lượng, thực hiện nghiêm túc quy định lao động và có bằng chứng chứng minh rõ ràng. 

Thứ năm: Thúc đẩy năng lực đổi mới, thích ứng, chống chịu. Nâng cao sự nhạy bén trong việc nhận diện xu hướng thị trường và công nghệ; linh hoạt điều chỉnh quy trình, đa dạng hóa nguồn cung và sẵn sàng chủ động học hỏi từ các tập đoàn dẫn dắt để quản trị rủi ro hiệu quả. 

Từ thực tế của doanh nghiệp, ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, cho rằng Việt Nam không chỉ cần thêm nhà máy, mà cần thêm những người biết bán sản phẩm của các nhà máy ra thế giới.

“Một nhà máy có thể tạo ra hàng hóa. Nhưng một đội ngũ thương mại mạnh có thể đưa hàng hóa của hàng trăm nhà máy ra thế giới. Nếu Việt Nam xây dựng được hàng chục nghìn, tiến tới hàng trăm nghìn doanh nghiệp có năng lực bán hàng quốc tế, chúng ta sẽ không chỉ là một quốc gia sản xuất tốt mà còn trở thành một quốc gia bán hàng giỏi. Mục tiêu khi đó không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà là doanh nghiệp Việt Nam chủ động hơn, giữ lại nhiều giá trị hơn, làm chủ nhiều khách hàng hơn và làm chủ nhiều thị trường hơn”, ông Việt khẳng định.

Vũ Khuê

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/5-nhom-giai-phap-giup-doanh-nghiep-noi-but-pha-trong-chuoi-cung-ung.htm