50 năm Nhà hát Trần Hữu Trang: Khi cải lương cần một không gian mới
Sau nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị của nghệ thuật cải lương Nam bộ, mà đang đứng trước yêu cầu chuyển mình để trở thành một thiết chế văn hóa năng động, gắn với du lịch, giáo dục, công nghiệp văn hóa và công nghệ số.
Ngày 17.9, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang tổ chức tọa đàm khoa học “Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang: 50 năm hình thành và phát triển”, với sự tham dự của đông đảo nhà khoa học, chuyên gia sân khấu, nhà quản lý và nghệ sĩ qua nhiều thế hệ. Hơn 45 tham luận được gửi đến Ban Tổ chức đã góp phần tái hiện một cách khá toàn diện hành trình nửa thế kỷ của một trong những thiết chế nghệ thuật cải lương quan trọng của TP.HCM.
Các tham luận tập trung vào ba nhóm chủ đề: Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang – Theo dòng lịch sử; Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang – Nơi chắp cánh cho những tài danh sân khấu cải lương; Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang – Định vị trong đời sống xã hội đương đại. Qua đó, một bức tranh nhiều chiều về quá trình hình thành, những thành tựu, đóng góp cũng như những vấn đề đặt ra đối với Nhà hát trong giai đoạn mới được mở ra.

NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó giám đốc Sở Văn hoá và Thể Thao TP.HCM, đề xuất mở rộng hơn nữa và phát triển thương hiệu Trần Hữu Trang.
Từ ba dòng chảy đến một thương hiệu
Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là đơn vị nghệ thuật cải lương công lập duy nhất của TP.HCM, được thành lập năm 1976 trên cơ sở hợp nhất lực lượng nghệ sĩ của Đoàn Cải lương Giải phóng, Đoàn Cải lương Nam bộ và các nghệ sĩ tại chỗ. Ngay từ những ngày đầu, Nhà hát không chỉ đảm nhiệm chức năng biểu diễn mà còn là nơi thể nghiệm, định hình dòng cải lương cách mạng, kết hợp giữa tính dân tộc, mỹ học truyền thống với tinh thần của thời đại mới.
Nhìn lại lịch sử ấy, nhà văn, đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc, nguyên Chủ nhiệm trường Đào tạo của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, đã ghi lại một lát cắt đặc biệt về nguồn gốc và hành trình của Nhà hát ra đời – ba dòng chảy gặp nhau. Theo đó, Nhà hát ca kịch Cải lương Trần Hữu Trang được thành lập theo Quyết định số 119/VH-QĐ ngày 15.9.1976 của Bộ Văn hóa trên cơ sở ba nguồn lực lượng là Cải lương Giải phóng (Trong R, tổng hợp từ Đoàn T4 và Đoàn Văn công Sài Gòn - Gia Định), Đoàn Cải lương Nam bộ (tập kết) và lực lượng nghệ sĩ tại chỗ.
Đến năm 1998 Nhà hát Ca kịch Cải lương Trần Hữu Trang được sáp nhập với Đoàn Văn Công Thành phố (tiền thân là Đoàn Văn Công Khu Sài Gòn - Gia Định) và được đổi tên thành Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, theo Quyết định của UBND TP.HCM, trực thuộc Sở Văn hóa và Thông tin TP.HCM(nay là Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM). Qua quyết định đó, Nhà hát được xác lập với vị trí và nhiệm vụ đặc biệt đối với đời sống sân khấu phía Nam. Bên cạnh nhiệm vụ dàn dựng và biểu diễn các tác phẩm cải lương, Nhà hát còn được giao những nhiệm vụ quan trọng khác: đào tạo nghệ sĩ, phát hiện những tài năng mới và sáng tạo, thử nghiệm những hình thức sân khấu mới. Ngày 15.9.1976 cũng là ngày Nhà hát chính thức nhận rạp Hưng Đạo, nay là Nhà hát Trần Hữu Trang.
"Năm thập kỷ đã trôi qua. Là một người đến với Nhà hát từ tám năm sau ngày thành lập, tôi muốn ghi lại những gì mình đã được tiếp xúc và chứng kiến. Năm ấy, vở Đi xuyên qua Mặt Trời (2006) - đạo diễn Phan Quốc Kiệt và Đừng tuyệt vọng, Tôi ơi! (2007) - đạo diễn Xuân Hồng. Đó cũng là công việc tôi từng thực hiện khi phụ trách Trường Đào tạo, khi cùng học viên đi biểu diễn phục vụ cộng đồng. Từ đó, tôi nhận ra rằng có những nơi ta rời đi mà không bao giờ thật sự rời khỏi. Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là một nơi như thế, một Nhà hát không chỉ tạo nên bởi những vở diễn, mà còn bởi khả năng hội tụ con người và truyền nghề qua các thế hệ", bà Ngọc chia sẻ.

Tiết mục nghệ thuật tại buổi tọa đàm. Ảnh: Báo Nhân Dân
Dù đã bước sang tuổi hưu cách đây 20 năm, khi có dịp bà vẫn cố gắng cộng tác với Nhà hát. Nhân dịp 50 năm, bà Ngọc tìm gặp con cháu soạn giả Trần Hữu Trang, cũng như con cháu các bậc tiền bối Năm Châu, Tư Chơi, để cùng thực hiện Tám Bút Trần Hữu Trang như một món quà gửi đến Nhà hát. "Tác phẩm chưa có điều kiện dựng sân khấu, nhưng tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó các sinh viên sân khấu sẽ tìm đến và dựng lại bằng tiếng nói của thế hệ mình. Trước mắt, tôi mong tác phẩm được in thành sách để những người trẻ hiểu thêm về người mà Nhà hát đã vinh dự mang tên. Bởi một Nhà hát mang tên một con người không chỉ cần nhớ tên ông, mà còn cần hiểu ông đã sống, đã sáng tác và để lại điều gì cho sân khấu", bà Ngọc nói.
Cũng theo nữ đạo diễn, ngày còn là sinh viên, bà ngồi dưới khán phòng Hưng Đạo để xem những người thầy của mình làm sân khấu. Bà không biết rằng nhiều năm sau, mình sẽ trở thành một phần (dù là rất nhỏ) trong dòng chảy ấy; càng không nghĩ đến khi tóc bạc vẫn còn có thể trao lại một điều gì đó cho những người sẽ đứng trên sân khấu sau mình. "Có lẽ đó cũng là cách một người làm nghề trả món nợ với sân khấu: không giữ lại những gì mình biết, mà tìm cách trao nó đi", bà Ngọc bộc bạch.
Bước ngoặt đổi mới trong hoạt động nghệ thuật
NSND Thoại Miêu chia sẻ tại tọa đàm rằng những năm tháng gắn bó với Nhà hát gợi lại trong bà nhiều xúc động. Đó là giai đoạn tập thể Nhà hát phải vượt qua nhiều khó khăn sau quá trình sáp nhập Đoàn Văn công Thành phố với Nhà hát Trần Hữu Trang, đồng thời nỗ lực đưa nghệ thuật cải lương đến với những địa bàn còn khó khăn về đời sống văn hóa, nghệ thuật.
Một dấu ấn nổi bật trong lịch sử Nhà hát là giai đoạn Giám đốc Phan Quốc Hùng (1997-2013), khi Nhà hát mạnh dạn thực hiện xã hội hóa để tạo ra những đổi mới trong hoạt động nghệ thuật. Vở Kim Vân Kiều, với sự phối hợp giữa nghệ sĩ, ca sĩ, dàn nhạc giao hưởng và dàn nhạc cổ, là một thử nghiệm quy mô và táo bạo vào thời điểm đó. Thành công của chương trình tạo nguồn kinh phí để Nhà hát tiếp tục đầu tư cho Chiếc áo Thiên Nga.
Đạo diễn, NSƯT Hoa Hạ cho rằng tinh thần hỗ trợ nghệ sĩ cùng sự linh hoạt, dũng cảm trong quản lý của ông Hùng đã góp phần tạo nên thời kỳ phát triển mạnh của các chương trình xã hội hóa tại Nhà hát.

Đạo diễn, NSƯT Hoa Hạ đề xuất ghi nhận đóng góp của NS Phan Quốc Hùng, nguyên Giám đốc nhà hát Trần Hữu Trang.
Theo phân tích của TS. Mai Mỹ Duyên, xã hội hóa cải lương không đơn thuần là câu chuyện tiền bạc. Trước năm 1975, các đoàn cải lương tư nhân phải cạnh tranh về nhân lực, vật lực và tài lực để tồn tại. Nhưng bên cạnh ba nguồn lực đó còn có một yếu tố đặc biệt: sự tâm huyết, niềm mê đắm và tinh thần dấn thân của những người làm nghề. Trong bối cảnh công nghệ và phương thức tiếp cận công chúng thay đổi nhanh chóng, tinh thần ấy vẫn là một nguồn lực quan trọng đối với sân khấu cải lương hôm nay.
NSND Thoại Miêu cũng gửi gắm đến Giám đốc Nhà hát, NSƯT Phan Quốc Kiệt, mong muốn tiếp nối truyền thống của các thế hệ đi trước, quyết tâm hơn nữa để Nhà hát xứng đáng với tên gọi Trần Hữu Trang của TP.HCM.
Từ một nhà hát biểu diễn đến thiết chế văn hóa đa chức năng
Nếu nửa thế kỷ qua là hành trình xây dựng thương hiệu bằng nghệ thuật và con người, thì chặng đường phía trước đặt ra một yêu cầu mới: làm thế nào để Nhà hát trở thành một không gian văn hóa sống, nơi công chúng không chỉ đến xem một suất diễn mà còn đến để trải nghiệm và tương tác với di sản cải lương?
TS Bùi Thị Hoa, Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Nam, kiến nghị Nhà hát cần được tái định vị theo hướng “thiết chế văn hóa đa chức năng”. Không gian Nhà hát có thể kết hợp phòng truyền thống, hoạt động trải nghiệm, cà phê văn hóa cải lương Sài Gòn xưa, sản phẩm lưu niệm và những hoạt động giao lưu dành cho người mộ điệu.
Trong khi đó, theo ThS. Trần Tường Huy, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Du lịch Xã hội, đề xuất gắn Nhà hát với kinh tế đêm của thành phố, phát triển chuỗi sản phẩm gồm biểu diễn – trải nghiệm – ẩm thực – mua sắm – giáo dục, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Nhà hát trở thành trung tâm trải nghiệm cải lương và văn hóa Nam Bộ về đêm của TP.HCM.
Theo ông Huy đối với các đô thị lớn, nghệ thuật biểu diễn truyền thống là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng của du lịch văn hóa. Nhiều thành phố trên thế giới đã thành công trong việc biến các loại hình nghệ thuật truyền thống thành sản phẩm du lịch đêm có sức cạnh tranh quốc tế như: Kabuki (Tokyo), Kinh kịch (Bắc Kinh), Nanta (Seoul), Flamenco (Madrid) hay Nhà hát Múa rối nước Thăng Long (Hà Nội).

ThS. Trần Tường Huy, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Du lịch Xã hội, đề xuất gắn Nhà hát với kinh tế đêm của thành phố.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nhà hát thành công trong việc thu hút du khách không chỉ bán vé xem biểu diễn mà xây dựng một chuỗi trải nghiệm văn hóa hoàn chỉnh, gồm tham quan không gian, giới thiệu lịch sử nghệ thuật, trình diễn tinh hoa trong thời lượng khoảng 45–60 phút, thuyết minh hoặc phụ đề đa ngôn ngữ, kết hợp ẩm thực, quà lưu niệm và giao lưu với nghệ sĩ. Với Nhà hát Trần Hữu Trang, mô hình này có thể hình thành chuỗi giá trị gồm biểu diễn, trải nghiệm di sản, giáo dục, ẩm thực, mua sắm và sáng tạo... Theo đó, Nhà hát vừa phát huy giá trị di sản cải lương Nam bộ, vừa tạo sản phẩm du lịch có chiều sâu, góp phần kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của du khách và đóng góp vào kinh tế ban đêm của TP.HCM.
Phát triển thương hiệu Trần Hữu Trang trong giai đoạn mới
Theo NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, việc mở đầu chuỗi hoạt động kỷ niệm 50 năm Nhà hát bằng một tọa đàm khoa học có ý nghĩa quan trọng, bởi các tham luận đã bổ sung cơ sở khoa học và dữ liệu quý để nhìn lại chặng đường phát triển của Nhà hát, đồng thời thể hiện sự trăn trở về sứ mệnh của Nhà hát trong giai đoạn tới.
Định hướng được bà Thúy nhấn mạnh là Nhà hát cần tiếp tục khẳng định vị trí của một đơn vị nghệ thuật công lập, trước hết thông qua việc sáng tạo tác phẩm và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; đồng thời phải mở rộng hơn nữa và phát triển thương hiệu Trần Hữu Trang.
Để thực hiện mục tiêu đó, Nhà hát cần phối hợp với các đơn vị nghiên cứu xây dựng những sản phẩm nghệ thuật phục vụ du lịch, đáp ứng các tiêu chuẩn và thị hiếu của nhóm du khách hướng đến. Nhà hát cũng đã trình đề án sân khấu du lịch dự kiến mang tên Sắc Việt, sử dụng chất liệu cải lương và dự kiến hợp tác với doanh nghiệp.
Một nhiệm vụ khác được đặc biệt lưu ý là đào tạo nguồn nhân lực kế thừa. Không chỉ đào tạo chính quy, Nhà hát cần tiếp tục phát huy hình thức truyền nghề, đào tạo nghệ sĩ, đạo diễn, tác giả, nhạc công. Trong kế hoạch phát triển nghệ thuật học đường đang được Sở Văn hóa và Thể thao trình UBND TP.HCM, từ năm học 2026-2027, các loại hình sân khấu truyền thống sẽ được giới thiệu đến trường học trên địa bàn. Nhà hát Trần Hữu Trang sẽ là một trong những đơn vị tham gia xây dựng học liệu, tập huấn kỹ năng sư phạm cho văn nghệ sĩ và đưa nghệ thuật vào trường học.
Bên cạnh đó là yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị, tăng cường tính tự chủ, năng động, kết nối các nguồn lực xã hội hóa; mở rộng liên kết giữa Nhà hát với các sân khấu xã hội hóa, mở rộng thị trường và quảng bá cải lương đến kiều bào, bạn bè quốc tế.
Đặc biệt, Sở Văn hóa và Thể thao cùng Nhà hát đang xây dựng hệ thống dữ liệu lớn về nghệ thuật truyền thống, hướng tới hình thành một thư viện số, kho dữ liệu dùng chung về tác phẩm, tác giả, nghệ sĩ và xa hơn là một bảo tàng số về nghệ thuật sân khấu cải lương, giúp công chúng dễ dàng tiếp cận những tài nguyên quý giá.

Đội ngũ diễn viên trẻ của Nhà hát Trần Hữu Trang liên tục được đào tạo, bồi dưỡng để có thể đảm đương nhiều vai diễn hay trên sân khấu trong giai đoạn phát triển của đất nước. Ảnh: Thanh Hiệp/ Sài Gòn Giải phóng
Tổng kết tọa đàm, NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy cho biết Ban Tổ chức ghi nhận các đóng góp và sẽ tiếp tục xây dựng những kế hoạch cụ thể nhằm phát huy giá trị của Nhà hát Trần Hữu Trang. Theo bà Thúy bảo tồn phải gắn với sáng tạo, đổi mới; bởi thị hiếu khán giả đã thay đổi và Nhà hát cần có cách tiếp cận phù hợp để xây dựng những lớp công chúng mới. Nhìn từ những ý kiến tại tọa đàm, chặng đường 50 năm của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang có thể được nhìn nhận không chỉ bằng số lượng vở diễn hay những nghệ sĩ đã thành danh, mà bằng khả năng giữ gìn di sản và thích ứng với những thay đổi của đời sống xã hội. Từ một thiết chế nghệ thuật được hình thành bởi “ba dòng chảy” lịch sử, Nhà hát hôm nay đứng trước một dòng chảy mới: dòng chảy của công nghiệp văn hóa, du lịch, giáo dục, công nghệ số và sự tham gia ngày càng chủ động của công chúng.
Và như tinh thần được lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao nhấn mạnh tại tọa đàm, mục tiêu không chỉ là bảo tồn một Nhà hát đã có 50 năm lịch sử, mà là tiếp tục khẳng định vị trí của nó với tư cách một đơn vị nghệ thuật công lập, đồng thời phát triển thương hiệu Trần Hữu Trang trong đời sống văn hóa đương đại. Đó sẽ là cách để di sản cải lương không chỉ được lưu giữ trong ký ức, mà tiếp tục hiện diện như một nghệ thuật sống của TP.HCM.
