Từ phố cổ Kashgar, nghĩ về cách đánh thức nguồn lực di sản cho 'tăng trưởng hai con số'

Thể thao và Văn hóa · Longform
Giữa những con ngõ đất nung, những ô cửa gỗ chạm khắc, tiếng búa của người thợ thủ công và nhịp sống đương đại của một đô thị du lịch sôi động, Phố cổ Kashgar ở Tân Cương (Trung Quốc) cho tôi một cảm nhận rất rõ: di sản chỉ thật sự sống khi người dân còn sống trong đó, văn hóa còn tạo ra sinh kế và ký ức của quá khứ có thể chuyển hóa thành giá trị của hôm nay. Từ câu chuyện Kashgar, Việt Nam có thể rút ra nhiều gợi mở quan trọng để bảo tồn các đô thị di sản theo hướng vừa giữ được bản sắc, vừa tạo ra nguồn lực mới cho phát triển.
01 Một đô thị cổ vẫn sống bằng nhịp sống hôm nay
Hôm nay, khi đi trong Phố cổ Kashgar ở Tân Cương (Trung Quốc), điều gây ấn tượng với tôi không chỉ là vẻ đẹp của một không gian kiến trúc mang đậm dấu ấn Trung Á và Hồi giáo, mà còn là cảm giác về một đô thị đang thực sự sống. Những con ngõ uốn lượn, những bức tường màu đất, các ban công, cửa gỗ, sân trong, cửa hàng thủ công, quán ăn, nhà ở và dòng người qua lại tạo nên một cấu trúc rất khác với nhiều “khu phố cổ” đã bị biến thành một sân khấu du lịch. Ở đây, du khách đi vào một không gian có cư dân, có sinh hoạt, có nghề nghiệp, có ký ức gia đình và có cả những nhu cầu rất hiện đại của đời sống hôm nay.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn, tác giả bài viết, tại Phố cổ Kashgar
Kashgar từng là một điểm nút quan trọng trên Con đường Tơ lụa, nơi giao thoa của nhiều dòng văn hóa và thương mại trong hơn hai thiên niên kỷ. Phố cổ hiện nay chỉ rộng khoảng 1,57 km² nhưng vẫn là nơi sinh sống của hàng chục nghìn người. Chính sự hiện diện của cộng đồng cư dân khiến giá trị của nơi này không dừng ở kiến trúc. Một chiếc cửa, một gian hàng, một lò bánh, một xưởng đồng, một sân nhà hay một điệu múa đều có thể trở thành một phần của trải nghiệm văn hóa, bởi chúng gắn với con người cụ thể và những thực hành đời sống cụ thể.
Điều đáng suy nghĩ là Kashgar không lựa chọn giữa hai cực: hoặc giữ nguyên một khu dân cư cũ với những bất tiện và nguy cơ mất an toàn, hoặc phá bỏ để xây mới hoàn toàn. Từ năm 2010, một chương trình cải tạo quy mô lớn được triển khai với tổng nguồn lực hơn 7 tỷ nhân dân tệ (khoảng 1 tỷ USD), tập trung gia cố nhà ở, cải thiện hạ tầng và điều kiện sống, đồng thời duy trì cấu trúc không gian, phong cách kiến trúc và nhiều yếu tố truyền thống của khu phố.
Từ ngày 1/5/2024, Quy định bảo vệ Phố cổ Kashgar có hiệu lực, đặt ra các nguyên tắc bảo vệ từ tổng thể cảnh quan, mạng lưới ngõ phố, sân truyền thống, nhà ở, nghề thủ công, kỹ nghệ truyền thống đến hoạt động kinh doanh; đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu ngăn ngừa thương mại hóa quá mức và phát triển lộn xộn.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Đó là một chi tiết rất đáng chú ý. Khi một điểm đến trở nên nổi tiếng, thách thức không còn chỉ là làm sao thu hút khách, mà là làm sao để lượng khách ấy không làm mất đi thứ đã khiến họ tìm đến ngay từ đầu. Bảo tồn vì thế không thể dừng ở sửa mái, sơn tường hay phục dựng mặt đứng. Bảo tồn phải đồng thời bảo vệ cấu trúc xã hội, đời sống cộng đồng, không gian nghề nghiệp và quyền của cư dân được tiếp tục là chủ thể của di sản.
02 Bảo tồn để tạo ra giá trị mới, chứ không đóng băng quá khứ
Điểm thú vị nhất ở Kashgar, theo tôi, là cách di sản được đặt trong một chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh. Người ta không chỉ bán vé để nhìn ngắm kiến trúc. Di sản được nối với ẩm thực, thủ công truyền thống, lưu trú, biểu diễn, mua sắm, chụp ảnh, trải nghiệm, kể chuyện, truyền thông số và các sản phẩm sáng tạo. Mỗi lớp giá trị ấy kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu và mở rộng cơ hội việc làm cho người dân.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Những con số chính thức cho thấy quy mô kinh tế của quá trình này không nhỏ. Năm 2024, riêng Phố cổ Kashgar được công bố đã đón hơn 22,9 triệu lượt khách và tạo ra hơn 9 tỷ nhân dân tệ doanh thu du lịch tổng hợp. Sang năm 2025, lượng khách tiếp tục tăng mạnh. Đằng sau các con số đó là một chuyển đổi quan trọng: văn hóa từ một tài sản cần ngân sách để bảo vệ trở thành một nguồn lực có khả năng tạo doanh thu, việc làm, thương hiệu địa phương và dòng đầu tư mới.
Tuy nhiên, giá trị lớn nhất không phải là số lượng cửa hàng hay khách du lịch. Nếu chỉ chạy theo doanh thu, mọi phố cổ đều có nguy cơ giống nhau: cùng một loại biển hiệu, cùng những món quà lưu niệm, cùng cách trang trí và cùng những màn trình diễn được “đóng gói” cho khách. Chính vì vậy, quy định bảo vệ Kashgar năm 2024 yêu cầu hoạt động kinh doanh phải phù hợp với bố cục thương mại và yêu cầu bảo vệ; việc sửa chữa, trang trí mặt đứng, lắp đặt biển quảng cáo hay thiết bị bên ngoài đều phải được kiểm soát. Đồng thời, chính sách khuyến khích cư dân tiếp tục sống tại chỗ, tham gia bảo vệ, khai thác và giới thiệu lối sống, nghề thủ công, phong tục của địa phương.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Ở đây có một nguyên lý đáng để chúng ta suy ngẫm: giá trị kinh tế bền vững của di sản phụ thuộc vào mức độ chân thực của văn hóa. Càng giữ được bản sắc riêng, điểm đến càng khó bị thay thế. Càng để cộng đồng trở thành chủ thể sáng tạo và hưởng lợi, di sản càng có khả năng tự tái tạo. Ngược lại, nếu cư dân bị đẩy ra ngoài, nghề truyền thống biến mất và không gian sống bị thay bằng một hệ thống cửa hàng phục vụ khách, thì nơi ấy có thể đông trong một thời gian nhưng rất dễ mất sức hấp dẫn trong dài hạn.
Vì thế, tôi cho rằng câu chuyện Kashgar cần được nhìn bằng một tinh thần tỉnh táo: học cách kết hợp bảo tồn với phát triển, nhưng không sao chép mô hình một cách cơ học. Mỗi đô thị di sản có lịch sử, cấu trúc dân cư và hệ giá trị riêng. Điều quan trọng là tìm ra cơ chế để cái cũ có thể sống trong điều kiện mới, chứ không biến cái cũ thành phông nền cho một nền kinh tế du lịch ngắn hạn.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
03 Kinh nghiệm cho Việt Nam: biến vốn văn hóa thành năng lực tăng trưởng
Việt Nam có rất nhiều không gian có thể đặt trong cuộc đối thoại này: Phố cổ Hà Nội, Hội An, Huế, các làng cổ, phố nghề, khu dân cư gắn với di tích, những chợ truyền thống và hàng nghìn cộng đồng đang nắm giữ di sản phi vật thể. Chúng ta không thiếu tài nguyên văn hóa. Điều chúng ta còn thiếu ở nhiều nơi là một cơ chế đủ tốt để biến tài nguyên ấy thành một hệ sinh thái giá trị mà vẫn bảo vệ được căn tính của di sản.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Bài học đầu tiên là phải coi cư dân là trung tâm của bảo tồn. Một ngôi nhà cổ không chỉ là vật liệu xây dựng; nó còn là ký ức của một gia đình và là mắt xích của một cộng đồng. Vì vậy, chính sách bảo tồn cần giúp người dân có điều kiện sống tốt hơn ngay trong khu di sản: hạ tầng an toàn, phòng cháy, vệ sinh, giao thông, dịch vụ công, hỗ trợ sửa chữa đúng kỹ thuật và những cơ hội sinh kế phù hợp. Khi người dân thấy rằng giữ gìn di sản giúp cuộc sống của họ tốt hơn, bảo tồn sẽ trở thành nhu cầu tự thân, thay vì chỉ là yêu cầu hành chính.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Bài học thứ hai là phải chuyển từ quản lý từng di tích sang quản trị một hệ sinh thái. Giá trị của một phố cổ không nằm ở vài căn nhà đẹp mà ở tổng thể không gian, nhịp điệu phố xá, nghề nghiệp, món ăn, lễ hội, ký ức, câu chuyện và cách con người sử dụng không gian ấy. Vì thế, quy hoạch, văn hóa, du lịch, giao thông, xây dựng, môi trường, thương mại và kinh tế sáng tạo phải được đặt trong cùng một khung quản trị. Chúng ta cũng cần những quy định cụ thể để kiểm soát chiều cao, mặt đứng, vật liệu, biển hiệu, chuỗi cửa hàng, mật độ kinh doanh và sức chứa du lịch, tránh tình trạng “bảo tồn kiến trúc nhưng mất linh hồn”.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Bài học thứ ba là phải nâng cấp chuỗi giá trị văn hóa. Di sản cần được chuyển hóa thành dữ liệu, câu chuyện, thiết kế, thương hiệu, sản phẩm thủ công, ẩm thực, phim ảnh, âm nhạc, trò chơi, quà tặng, tour trải nghiệm và tài sản trí tuệ. Muốn vậy, cần sự tham gia của nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, nền tảng số và các nhà đầu tư sáng tạo. Khi một câu chuyện văn hóa có thể đi từ không gian di sản ra sản phẩm, từ sản phẩm ra thị trường và từ thị trường quay trở lại nuôi dưỡng cộng đồng, khi ấy chúng ta mới thực sự tạo được vòng tuần hoàn của kinh tế văn hóa.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Đây cũng là tinh thần rất gần với những yêu cầu mới đối với phát triển văn hóa Việt Nam. Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, 9% vào năm 2045; đồng thời yêu cầu xác định cụ thể những lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp và dự án có khả năng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Thông điệp ấy, theo tôi, làm thay đổi cách chúng ta nhìn về bảo tồn. Di sản không còn chỉ là phần ký ức cần được gìn giữ bằng ngân sách, mà phải trở thành một nguồn lực phát triển được quản trị có trách nhiệm. Nhưng “đánh thức” nguồn lực văn hóa không đồng nghĩa với khai thác bằng mọi giá. Giá trị kinh tế phải được tạo ra trên nền tảng giữ gìn giá trị văn hóa, tôn trọng cộng đồng và bảo đảm khả năng truyền lại di sản cho các thế hệ sau.
“Phải chuyển từ quản lý từng di tích sang quản trị một hệ sinh thái. Giá trị của một phố cổ không nằm ở vài căn nhà đẹp mà ở tổng thể không gian, nhịp điệu phố xá, nghề nghiệp, món ăn, lễ hội, ký ức, câu chuyện và cách con người sử dụng không gian ấy”.
PGS-TS Bùi Hoài Sơn

Phố cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Rời Phố cổ Kashgar, điều ở lại trong tôi không chỉ là vẻ đẹp của những con ngõ cổ. Đó là câu hỏi lớn hơn về tương lai của các đô thị di sản: làm thế nào để quá khứ không trở thành gánh nặng của hiện tại, mà trở thành nguồn lực của tương lai? Việt Nam đang bước vào giai đoạn cần những động lực tăng trưởng mới. Trong hành trình đó, văn hóa không thể đứng bên lề nền kinh tế. Nếu biết bảo tồn đúng cách, tổ chức lại chuỗi giá trị, trao quyền cho cộng đồng và khơi thông sức sáng tạo, mỗi di sản có thể trở thành một “mỏ tài nguyên” đặc biệt - càng được khai thác bằng tri thức và sáng tạo, càng có khả năng sinh ra những giá trị mới mà không làm nghèo đi ký ức của dân tộc.
Bài và ảnh: PGS-TS BÙI HOÀI SƠN
Trình bày: PHẠM HUY
BÁO THỂ THAO VÀ VĂN HÓA
