6,8 tỷ tấn hàng hóa và cuộc chuyển dịch lớn của vận tải Việt Nam
Với quy mô vận tải được dự báo vào năm 2035 là 6,8 tỷ tấn hàng hóa và khoảng 15 tỷ lượt hành khách, bài toán của Việt Nam không chỉ là làm thêm đường mà là tổ chức lại mạng lưới vận tải theo hướng liên thông, đa phương thức, hiệu quả và xanh hơn.
Hàng hóa tăng lên 6,8 tỷ tấn, vận tải đa phương thức lên ngôi
Theo Dự báo nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách đến năm 2035, định hướng đến năm 2050, do Học viện Chiến lược và Bồi dưỡng cán bộ Xây dựng thực hiện, dự báo được xây dựng trên cơ sở kết hợp các phương pháp định tính và định lượng, nhằm phản ánh những thay đổi của nền kinh tế và nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại trong tương lai.

Đường bộ vẫn giữ vai trò chủ đạo đối với cả vận tải hành khách và hàng hóa, đặc biệt trong hoạt động gom hàng, phân phối và kết nối đến điểm cuối. Ảnh minh hoạ.
Theo đó, trong giai đoạn 2026 - 2030, dự báo được điều chỉnh trên cơ sở kế thừa phương pháp luận, dữ liệu và kết quả dự báo trước đây theo kịch bản GDP tăng khoảng 7%/năm. Việc kế thừa này nhằm bảo đảm tính liên tục, nhất quán và khả năng so sánh giữa các kịch bản.
Nghiên cứu đồng thời lượng hóa sự khác biệt giữa hai kịch bản GDP tăng 7% và 10%. Với kịch bản GDP tăng 10%, phần tăng trưởng bổ sung được giả định chủ yếu đến từ năng suất tổng hợp, đổi mới công nghệ, kinh tế số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao. Do đó, tăng trưởng kinh tế không kéo theo mức gia tăng tương ứng về khối lượng vận tải vật chất như mô hình tăng trưởng theo chiều rộng.
Nếu kịch bản GDP tăng 7% phản ánh tương đối rõ mối quan hệ truyền thống giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu vận tải, với hệ số đàn hồi khoảng 1,2-1,25, thì ở kịch bản GDP tăng 10%, hệ số đàn hồi trung bình giảm xuống khoảng 0,8-1,11. Điều này cho thấy xu hướng tách dần giữa tăng trưởng GDP và khối lượng vận tải khi nền kinh tế chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu, gia tăng giá trị hàng hóa, tối ưu hoạt động logistics và giảm phương tiện chạy rỗng.
Với kịch bản GDP tăng khoảng 10%/năm, tổng nhu cầu vận tải đến năm 2030 được dự báo tiếp tục tăng mạnh ở cả hàng hóa và hành khách.
Cụ thể, vận tải hàng hóa dự báo đạt khoảng 5,1-5,3 tỷ tấn, với khối lượng luân chuyển khoảng 950-1.000 tỷ tấn.km. Vận tải hành khách dự báo đạt khoảng 11,6 tỷ lượt, với khối lượng luân chuyển khoảng 440-460 tỷ hành khách.km.
Đường bộ vẫn giữ vai trò chủ đạo trong vận tải hàng hóa và hành khách, đặc biệt ở các khâu gom hàng, phân phối và kết nối đến điểm cuối. Tuy nhiên, thị phần vận tải hàng hóa bằng đường sắt, đường thủy nội địa và vận tải ven biển được dự báo tăng dần khi hệ thống cao tốc, đường sắt, cảng biển, cảng cạn và trung tâm logistics từng bước hoàn thiện.
Các hành lang vận tải trọng điểm như Bắc - Nam, Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai, Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh - Cái Mép - Thị Vải và các hành lang kết nối cửa khẩu tiếp tục là những khu vực có nhu cầu vận tải lớn. Việc hoàn thiện các hành lang này không chỉ nâng cao năng lực giao thông mà còn tăng cường kết nối vùng, cải thiện năng lực logistics và góp phần tổ chức lại dòng vận tải giữa các phương thức.
Đến năm 2035, cùng với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển thương mại và logistics, nhu cầu vận tải được dự báo tiếp tục gia tăng.
Vận tải hàng hóa dự báo đạt khoảng 6,5-6,8 tỷ tấn, với khối lượng luân chuyển khoảng 1.250-1.350 tỷ tấn.km. Vận tải hành khách đạt khoảng 14,5-15 tỷ lượt, với khối lượng luân chuyển khoảng 600-650 tỷ hành khách.km.
Như vậy, trong vòng 5 năm, quy mô nhu cầu vận tải được dự báo tiếp tục tăng đáng kể trên cả ba phương diện: khối lượng hàng hóa, số lượt hành khách và khối lượng luân chuyển. Điều này phản ánh nhu cầu vận chuyển giữa các vùng kinh tế ngày càng lớn.
Đáng chú ý, cơ cấu thị trường vận tải cũng được dự báo có sự thay đổi. Thị phần vận tải đường bộ đối với hàng hóa cự ly dài có xu hướng giảm dần, trong khi tỷ trọng của đường sắt, đường thủy nội địa và vận tải ven biển tăng lên.

Nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách sẽ tăng nhanh đến năm 2035. Ảnh minh hoạ.
Vận tải Việt Nam hướng tới hệ thống đa phương thức, số hóa và xanh hơn
Sự gia tăng và thay đổi về nhu cầu vận tải đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại hệ thống theo hướng phát huy tốt hơn lợi thế của từng phương thức, đồng thời tăng cường kết nối giữa các loại hình vận tải.
Theo Học viện Chiến lược và Bồi dưỡng cán bộ Xây dựng, các kịch bản phát triển hạ tầng tính đến việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống cao tốc, đưa một số công trình đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam vào khai thác, đồng thời phát triển cảng biển, cảng hàng không, cảng cạn và các trung tâm logistics. Khi các công trình này được hình thành và đưa vào vận hành, năng lực thông qua, chi phí vận tải và cơ cấu thị phần giữa các phương thức được dự báo sẽ có những thay đổi đáng kể.
Trong đó, đường bộ tiếp tục phát huy lợi thế về tính linh hoạt, khả năng kết nối trực tiếp và đảm nhiệm các khâu gom, trả hàng. Đường sắt, đường thủy nội địa và vận tải ven biển có thêm điều kiện để tăng thị phần trong vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, cự ly dài. Sự chuyển dịch này phù hợp với yêu cầu ngày càng cao về giảm chi phí logistics, nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng và giảm phát thải.
Cùng với thay đổi về cơ cấu phương thức, vận tải đa phương thức, logistics tích hợp và các dịch vụ vận tải gắn với chuỗi cung ứng được dự báo phát triển nhanh, trở thành xu hướng quan trọng trong tổ chức vận tải.
Thay vì khai thác riêng lẻ từng phương thức, hệ thống vận tải cần được tổ chức theo chuỗi liên thông, trong đó mỗi phương thức đảm nhiệm những công đoạn phù hợp. Đường sắt và đường thủy có thể vận chuyển các dòng hàng hóa khối lượng lớn trên cự ly dài; đường bộ đảm nhiệm khâu gom, trả hàng và kết nối tới khu công nghiệp, kho hàng, trung tâm phân phối. Các cảng biển, cảng cạn và trung tâm logistics đóng vai trò đầu mối kết nối, chuyển tiếp hàng hóa giữa các phương thức.
Chuyển đổi số được xem là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình này. Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, điều phối phương tiện, quản lý kho bãi, chia sẻ dữ liệu và tối ưu hành trình có thể giúp hạn chế phương tiện chạy rỗng, giảm thời gian chờ và nâng cao hiệu quả khai thác.
Song song với đó, yêu cầu chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông ngày càng rõ nét. Phát triển các phương thức vận tải có hiệu quả năng lượng cao, sử dụng phương tiện năng lượng sạch, tối ưu hóa logistics và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sẽ góp phần giảm phát thải.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thuỷ, chuyên gia giao thông, nhận định nhu cầu vận tải của Việt Nam đến năm 2035 và định hướng đến năm 2050 sẽ tiếp tục tăng nhanh cả về quy mô và chất lượng.
“Đây là động lực để phát triển kết cấu hạ tầng, song đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại thị phần giữa các phương thức vận tải. Trong bối cảnh đó, phát triển giao thông không chỉ là mở rộng thêm đường, thêm tuyến mà cần hướng tới một hệ thống vận tải đồng bộ, liên thông, đa phương thức, số hóa và xanh hơn. Việc phát huy đúng lợi thế của từng phương thức, kết nối hiệu quả hạ tầng và phát triển logistics hiện đại sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng lớn, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, bà Thuỷ nhấn mạnh.
