6 ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động cao hiện nay

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi khí hậu, một số ngành nghề tại Việt Nam đang có nguy cơ đặc biệt cao, đòi hỏi phải chuyển mạnh từ phát hiện bệnh sang quản lý nguy cơ và dự phòng từ nơi làm việc.

1. Khoảng trống trong phát hiện bệnh nghề nghiệp

Nội dung

1. Khoảng trống trong phát hiện bệnh nghề nghiệp

2. Một số ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao

3. Không nên chờ có bệnh mới phòng bệnh

Năm 2025, theo số liệu được công bố trong báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động, 865.143 lượt người lao động có tiếp xúc yếu tố có hại đã được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, tăng khoảng 51% so với năm trước. Tuy nhiên chỉ có 51 trường hợp được chẩn đoán mới. Khoảng cách rất lớn giữa số người có nguy cơ, số người được khám và số bệnh được ghi nhận cho thấy bệnh nghề nghiệp vẫn có khả năng bị phát hiện chưa đầy đủ trong thực tế.

Đáng chú ý, một tài liệu đánh giá chính sách của Bộ Nội vụ năm 2025 xác định tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp còn diễn biến phức tạp, tập trung ở các lĩnh vực xây dựng, khai thác khoáng sản, chế biến gỗ, hóa chất, cơ khí và nông nghiệp. Đây cũng là những nhóm ngành cần được ưu tiên trong giám sát sức khỏe nghề nghiệp hiện nay.

Phát hiện sớm đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh nghề nghiệp.

Phát hiện sớm đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa và kiểm soát bệnh nghề nghiệp.

2. Một số ngành nghề có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao

2.1 Khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến đá

Công nhân khai thác than, khai thác đá, khoan – nghiền – sàng khoáng sản, sản xuất xi măng, gạch, gốm sứ và vật liệu xây dựng là nhóm đặc biệt đáng lưu ý. Trong đó, nguy cơ lớn nhất là bụi chứa silic tự do, có thể gây bệnh bụi phổi silic, một bệnh phổi nghề nghiệp không hồi phục, có khả năng tiến triển ngay cả sau khi người lao động đã ngừng tiếp xúc. Người mắc bệnh nặng có thể suy giảm chức năng hô hấp, tăng nguy cơ mắc lao phổi và nhiều biến chứng khác.

Việc Bộ Y tế tiếp tục xếp bệnh bụi phổi silic, bụi phổi amiăng, bụi phổi than và nhiều bệnh đường hô hấp nghề nghiệp trong Danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội theo Thông tư 60/2025/TT-BYT cho thấy nhóm bệnh do bụi vẫn là một trọng tâm lớn của y tế lao động Việt Nam. Đặc biệt, các cơ sở khai thác, chế biến đá quy mô nhỏ, công đoạn cắt đá khô, khoan phá đá hoặc làm việc trong không gian kín cần được xem là những vị trí nguy cơ rất cao nếu kiểm soát bụi không hiệu quả.

2.2 Xây dựng

Ngành xây dựng có lực lượng lao động lớn và môi trường làm việc thay đổi liên tục. Người lao động có thể đồng thời tiếp xúc với bụi silic từ bê tông, đá và vật liệu xây dựng; bụi amiăng tại một số công trình cũ; tiếng ồn, rung, hóa chất, tư thế lao động nặng nhọc và nhiệt độ cao.

Những người làm công việc khoan, cắt, mài bê tông, phá dỡ công trình có nguy cơ bệnh phổi do bụi; công nhân vận hành máy móc có thể bị điếc nghề nghiệp; trong khi thợ sơn, chống thấm và hoàn thiện công trình có thể tiếp xúc dung môi và hóa chất.

Lao động xây dựng ngoài trời còn là nhóm ngày càng chịu tác động của nắng nóng cực đoan và bức xạ tử ngoại. Bộ Nội vụ năm 2025 cũng cảnh báo biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan có thể làm tăng các nguy cơ đối với sức khỏe người lao động.

Công nhân xây dựng có thể đồng thời tiếp xúc với bụi silic từ bê tông, đá và vật liệu xây dựng. Nguồn: Ảnh AI

Công nhân xây dựng có thể đồng thời tiếp xúc với bụi silic từ bê tông, đá và vật liệu xây dựng. Nguồn: Ảnh AI

2.3 Cơ khí, luyện kim và sản xuất công nghiệp

Tại các nhà máy cơ khí, luyện kim, đóng tàu, sản xuất thép, gia công kim loại và nhiều dây chuyền công nghiệp, tiếng ồn là một trong những yếu tố có hại phổ biến nhất. Tiếp xúc tiếng ồn cường độ cao kéo dài có thể gây điếc nghề nghiệp – bệnh diễn biến từ từ, không đau nên người lao động thường chỉ phát hiện khi khả năng nghe đã suy giảm đáng kể.

Bên cạnh tiếng ồn, nhóm lao động này còn có thể tiếp xúc với khói hàn, bụi kim loại, rung cục bộ, nhiệt độ cao và các kim loại hoặc hóa chất độc hại. Do đó, chỉ trang bị nút tai hoặc khẩu trang là chưa đủ; doanh nghiệp cần ưu tiên các giải pháp kỹ thuật như cách âm, hút bụi – hút khói tại nguồn, tự động hóa và kiểm soát thời gian tiếp xúc.

2.4 Hóa chất, sơn, nhựa, cao su, ắc quy và điện tử

Các ngành sản xuất và sử dụng hóa chất có phổ nguy cơ rất rộng. Người lao động có thể tiếp xúc với dung môi hữu cơ, kim loại nặng, axit, kiềm, khí độc và nhiều hợp chất có khả năng ảnh hưởng thần kinh, hô hấp, da hoặc cơ quan tạo máu.

Đáng lưu ý, nguy cơ không chỉ nằm ở các nhà máy hóa chất lớn mà còn có thể xuất hiện tại cơ sở tái chế, sản xuất nhỏ, làng nghề hoặc các doanh nghiệp sử dụng hóa chất nhưng quản lý chưa chặt chẽ.

Trong sản xuất điện tử hiện đại, người lao động còn có thể chịu tác động kết hợp của hóa chất, công việc lặp đi lặp lại, tư thế tĩnh kéo dài và áp lực năng suất. Vì vậy, giám sát sức khỏe nghề nghiệp cần mở rộng hơn cách tiếp cận truyền thống chỉ tập trung vào bệnh do bụi và tiếng ồn.

2.5 Y tế

Nhân viên y tế là một nhóm nghề có nguy cơ đặc thù do thường xuyên tiếp xúc với máu, dịch sinh học, vi sinh vật gây bệnh, vật sắc nhọn, hóa chất khử khuẩn, thuốc điều trị đặc biệt và bức xạ ion hóa tại một số vị trí.

Ngoài các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp, nhân viên y tế còn đối mặt với rối loạn cơ xương khớp do nâng đỡ người bệnh, trực kéo dài, làm việc theo ca và căng thẳng tâm lý nghề nghiệp. Sự xuất hiện của các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp trong hệ thống bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm tiếp tục khẳng định yêu cầu phải quản lý nguy cơ sinh học một cách hệ thống trong các cơ sở y tế.

2.6 Nông nghiệp, lâm nghiệp và lao động ngoài trời

Người lao động nông nghiệp có thể tiếp xúc thuốc bảo vệ thực vật, bụi hữu cơ, vi sinh vật, tiếng ồn máy móc, ánh nắng và nhiệt độ cao. Tuy nhiên, phần lớn làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc quy mô hộ gia đình nên việc quan trắc môi trường lao động và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp còn khó khăn.

Xu hướng quốc tế hiện nay cũng đặc biệt lưu ý các ngành có nguy cơ cao như nông nghiệp, xây dựng, khai khoáng, dệt may và hóa chất, đồng thời cảnh báo công nghệ mới, biến đổi khí hậu và các hình thức việc làm mới đang làm thay đổi bản đồ nguy cơ nghề nghiệp. Báo cáo của ILO công bố năm 2025 nhấn mạnh nhu cầu áp dụng công nghệ và hệ thống quản lý thông minh để kiểm soát nguy cơ tại chính các ngành này.

3. Không nên chờ có bệnh mới phòng bệnh

Từ ngày 15/2/2026, Việt Nam áp dụng danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội theo Thông tư 60/2025/TT-BYT. Tuy nhiên, danh mục bệnh được bảo hiểm không nên được hiểu là toàn bộ các vấn đề sức khỏe liên quan đến công việc. Người lao động cần phải biết rõ các yếu tố có hại nào mình đang phải tiếp xúc và tự theo dõi diễn biến sức khỏe của mình và trao đổi với bác sĩ bệnh nghề nghiệp trong những đợt khám bệnh nghề nghiệp hàng năm của đơn vị mình

Ưu tiên hiện nay cần là xây dựng "Bộ chỉ số quan trắc môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp đối với các ngành nghề có nguy cao, bản đồ nguy cơ bệnh nghề nghiệp" theo ngành và vị trí việc làm, tập trung trước hết vào khai thác – chế biến khoáng sản và đá, vật liệu xây dựng, xây dựng, cơ khí – luyện kim, hóa chất, sản xuất công nghiệp, y tế và nông nghiệp.

Quan trọng hơn, phòng chống bệnh nghề nghiệp phải bắt đầu từ kiểm soát yếu tố có hại tại nguồn, quan trắc môi trường lao động, đánh giá phơi nhiễm cá nhân, khám phát hiện bệnh đúng đối tượng nguy cơ và quản lý sức khỏe người lao động trong suốt quá trình làm việc vì đây là những bệnh lý có thể âm thầm tích lũy trong nhiều năm.

TS. BS. Nguyễn Đình Trung

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/6-nganh-nghe-co-nguy-co-mac-benh-nghe-nghiep-tai-nan-lao-dong-cao-hien-nay-169260721095442205.htm