80 năm ngày ký Hiệp định Sơ bộ năm 1946: 'Dĩ bất biến, ứng vạn biến'

Hôm nay (ngày 6/3), đúng tròn 80 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Sơ bộ với Chính phủ Pháp (6/3/1946-6/3/2026). Đây là một mốc son trong nền ngoại giao Việt Nam, một bản hiệp định mang tính pháp lý quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam mới.

Ra đời trong hoàn cảnh đất nước "ngàn cân treo sợi tóc", Hiệp định Sơ bộ là một quyết sách chiến lược để cứu vãn tình thế đất nước. Đồng thời, là đỉnh cao của nghệ thuật đàm phán, nghệ thuật "Hòa để tiến", "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

80 năm nhìn lại, những bài học về sự nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn trong bối cảnh thế giới nhiều biến động hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. Ảnh tư liệu

Phác họa lại bức tranh "thù trong giặc ngoài" lúc bấy giờ, PGS.TS Đinh Quang Hải, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho biết, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đất nước ta bị kiệt quệ, khó khăn lớn nhất chính là nạn “thù trong giặc ngoài”.

Ở miền Bắc, theo Hiệp định Potsdam, 20 vạn quân Tưởng sẽ vào phía Bắc của vĩ tuyến 16 để giải giáp quân Nhật. Còn ở phía Nam, núp dưới bóng quân Anh còn có quân Pháp. Như vậy, hai đầu đất nước đều có kẻ thù. Ngoài ra còn có lính Nhật đang chờ giải giáp. Tình hình lúc đó hết sức khó khăn, phức tạp, được ví như "ngàn cân treo sợi tóc".

Trong bối cảnh tình hình lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì cuộc họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng vào ngày 3/3/1946. Hội nghị đưa ra chủ trương lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh, mà vấn đề là phải biết mình biết người, đồng thời nhìn nhận một cách khách quan những điều kiện thuận lợi trong nước và ngoài nước để đưa ra những chủ trương cho đúng.

Trên cơ sở phân tích một cách khách quan, chính xác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. Sự kiện này được giới sử học đánh giá là một nước cờ cực kỳ sáng suốt và đúng thời điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bởi vì Hiệp định Sơ bộ đã loại trừ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một kẻ thù là quân đội Tưởng Giới Thạch và tay sai; đẩy được 20 vạn quân Tưởng về nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng và ta tranh thủ được thời gian tạm hòa hoãn để củng cố và xây dựng lực lượng cách mạng.

“Các giáo sư sử học khi sang giảng dạy ở các nước châu Phi như Madagascar hay là Algeria có nói, các nước đang đấu tranh đòi độc lập, nằm trong Liên hiệp Pháp đều đánh giá rất cao Hiệp định Sơ bộ. Bởi vì họ cũng rất mong muốn có được Hiệp định mà như những điều khoản trong Hiệp định Sơ bộ đã quy định”, PGS.TS Đinh Quang Hải cho biết.

PGS.TS Đinh Quang Hải - nguyên Viện trưởng Viện Sử học.

PGS.TS Đinh Quang Hải - nguyên Viện trưởng Viện Sử học.

Thỏa hiệp phải có nguyên tắc

Tuy nhiên, theo PGS.TS Đinh Quang Hải, chúng ta đã thành công trong việc loại bớt một kẻ thù. Nhưng để làm được điều đó, trong Hiệp định, chúng ta đã chấp nhận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng. Ở thời điểm đó, nhiều người lo ngại cho rằng đó là một sự nhân nhượng quá lớn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Song thực chất không phải như vậy, mà đây chính là một tính toán chiến lược rất sâu xa của chúng ta.

Bởi vì Hiệp định Sơ bộ là Hiệp định mang tính chất pháp lý quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thực tế lịch sử đã thấy rõ, Hiệp định đã tạo cơ sở pháp lý buộc quân Tưởng phải rút nhanh khỏi miền Bắc, giúp nhân dân miền Bắc tạm thời tránh được một cuộc chiến tranh đang đến gần, tránh cùng một lúc phải đối phó với hai kẻ thù. Còn đối với đồng bào miền Nam, Hiệp định Sơ bộ tạo điều kiện để các lực lượng kháng chiến ở miền Nam củng cố lực lượng.

"Nguyên tắc cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn ta kiên quyết bảo vệ, đó là không để sự nhân nhượng xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, có quốc hội riêng, có quân đội và tài chính riêng", vị Phó giáo sư cho biết, về vấn đề thống nhất ba kỳ, Pháp phải cam kết quyết định thông qua trưng cầu dân ý. Trong quá trình đàm phán, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: "Nam Bộ là của Việt Nam. Nam Bộ là máu là thịt của Việt Nam". Đó là một nguyên tắc không bao giờ thay đổi.

Theo PGS.TS Đinh Quang Hải, trong quá trình đàm phán, bế tắc lớn nhất là vấn đề câu chữ. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết không chấp nhận chữ "tự trị" mà đại diện phía Pháp đưa ra. Còn phía Pháp thì lại không công nhận chữ "độc lập" do chúng ta đề xuất.

Trong hoàn cảnh bế tắc như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một sáng kiến được Trung ương tán thành, đó là yêu cầu nước Pháp công nhận nước Việt Nam là "một quốc gia tự do". Đó không phải là chữ "tự trị" hay "độc lập", nhưng buộc chính phủ Pháp phải thừa nhận Việt Nam có chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân đội và tài chính riêng. Việc đưa ra từ đó để vượt qua bế tắc chính là thể hiện ý "dĩ bất biến, ứng vạn biến".

PGS.TS Đinh Quang Hải cho biết, trong quá trình đàm phán, chúng ta có thể thỏa hiệp, có thể nhân nhượng, song sự thỏa hiệp phải có nguyên tắc, tức là không thể vượt qua ranh giới và chỉ thỏa hiệp trong một biên độ nhất định.

"Một nguyên tắc dứt khoát, bất di bất dịch, và nhất quyết không để việc nhân nhượng thỏa hiệp đi quá giới hạn mà làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là nguyên tắc quan trọng nhất. Đàm phán có thể nhân nhượng, thậm chí có thể thỏa hiệp, nhưng không thể hy sinh lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong bất kỳ tình huống nào, việc bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là nguyên tắc bất di bất dịch", vị Phó giáo sư nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Đinh Quang Hải, trong bối cảnh hiện nay, cũng như trong thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Việt Nam phải thể hiện được bản lĩnh của mình. Từ sự kiện ký Hiệp định Sơ bộ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện được bản sắc ngoại giao cây tre, "dĩ bất biến, ứng vạn biến".

"Muốn thể hiện được bản lĩnh của mình, chúng ta phải luôn luôn quan tâm đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc; xây dựng đất nước phát triển bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Và cần phải xác định rõ độc lập, tự do cho Tổ quốc, an ninh và phát triển là lợi ích tối cao nhất của dân tộc. Tuy nhiên chúng ta cũng phải ý thức đầy đủ về mối quan hệ, hợp tác và đấu tranh, nhân nhượng và đấu tranh trong hợp tác quốc tế", PGS.TS Đinh Quang Hải cho biết.

Theo nguyên Viện trưởng Viện Sử học, phải xử lý hài hòa và đúng đắn mối quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng và với các nước lớn; biết mình, biết người. Đó là điều kiện để Việt Nam bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc. Trong đường lối đối ngoại, trong quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay, nước ta thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam làm bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Trường Giang/VOV

Nguồn VOV: https://vov.vn/chinh-tri/80-nam-ngay-ky-hiep-dinh-so-bo-nam-1946-di-bat-bien-ung-van-bien-post1273475.vov