80 năm Quốc hội Việt Nam - thành tựu trong hoạt động lập hiến, lập pháp
Qua 80 năm, hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, đồng thời đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, làm nền tảng cho sự phát triển trong thời kỳ mới. Những bài học này không chỉ phản ánh hành trình xây dựng, đổi mới và phát triển của Quốc hội mà còn là kim chỉ nam để cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất tiếp tục đổi mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
Tư duy lập hiến, lập pháp ngày càng được đổi mới
Kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam vào ngày 6/1/1946, Quốc hội nước ta đã trải qua 15 khóa hoạt động với những dấu ấn sâu đậm. Trong quá trình đó, hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội đã không ngừng được củng cố, phát triển và hoàn thiện, góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phản ánh sâu sắc ý chí, nguyện vọng của nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước qua từng thời kỳ.
Trong 80 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong hoạt động lập hiến và lập pháp, từ việc xây dựng những bản Hiến pháp mang tính cách mạng như Hiến pháp năm 1946 đến hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại như ngày nay. Những thành tựu này không chỉ khẳng định vai trò của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và phát triển đất nước.
Hoạt động lập hiến, lập pháp đã góp phần thể hiện sâu sắc vị trí, vai trò của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; đóng góp tích cực vào những thành tựu trong các giai đoạn phát triển của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hoạt động lập hiến, lập pháp cũng thúc đẩy việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Quốc hội Việt Nam - 80 năm hình thành và phát triển". Ảnh: Lâm Hiển
Cùng với đó, tư duy lập hiến, lập pháp ngày càng được đổi mới. Trong 80 năm xây dựng, hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam, tư duy lập hiến và lập pháp của Quốc hội Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ, từ việc chưa hình thành hệ thống trong những ngày đầu thành lập đến việc mang tính hiện đại, thể hiện đậm nét pháp quyền XHCN trong thời kỳ đổi mới. Quy trình, kỹ thuật lập pháp cũng ngày càng hoàn thiện.
Qua 80 năm hoạt động lập hiến và lập pháp, Quốc hội Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, đồng thời đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, làm nền tảng cho sự phát triển trong thời kỳ mới. Những bài học này không chỉ phản ánh hành trình xây dựng, đổi mới và phát triển của Quốc hội mà còn là kim chỉ nam để cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất tiếp tục đổi mới, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hội nhập và phát triển, trong đó có những bài học kinh nghiệm nổi bật. Điều này được khẳng định tại Hội thảo khoa học quốc gia "80 năm Quốc hội Việt Nam - hình thành và phát triển".
Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố then chốt bảo đảm thành công của hoạt động lập hiến, lập pháp.
Thứ hai, tính dân chủ, công khai, minh bạch là nền tảng bảo đảm Hiến pháp, pháp luật phản ánh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Thứ ba, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa pháp luật với thực tiễn đời sống xã hội
Thứ tư, tính chuyên nghiệp, khoa học là cơ sở nâng cao chất lượng pháp luật.
Thứ năm, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong hoạt động lập hiến, lập pháp.
Thứ sáu, sự kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật là điều kiện để bảo đảm pháp luật có tính khả thi, đi vào thực tiễn.
Tập trung hoàn thiện cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả thi hành
Có thể nói, trải qua 80 năm xây dựng, phát triển và đổi mới, hoạt động lập hiến, lập pháp của Quốc hội đã được tích lũy, trang bị đầy đủ những điều kiện cần thiết để đồng hành cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Bối cảnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN. Đồng thời, đất nước cũng đang đối mặt với những thách thức mới như chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh địa chính trị và yêu cầu hội nhập sâu rộng với luật pháp quốc tế.
Những yếu tố này đòi hỏi Quốc hội không chỉ tiếp tục phát huy vai trò là "cơ quan lập pháp tối cao" mà còn phải nâng cao năng lực dự báo, chủ động xây dựng hệ thống pháp luật vừa hiện đại, ổn định, vừa linh hoạt, thích ứng. Trong bối cảnh đó, hoạt động lập hiến, lập pháp của Quốc hội cần tiếp tục được hoàn thiện và phát triển theo những định hướng phát triển quan trọng.
Trước hết là phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác lập hiến, lập pháp. Đổi mới tư duy lập hiến, lập pháp theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông nguồn lực để phát triển.
Cùng với đó, xây dựng pháp luật thích ứng với yêu cầu của sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang định hình lại thế giới và Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Quốc hội cần định hướng xây dựng pháp luật để tận dụng cơ hội từ chuyển đổi số, đồng thời thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thời đại.

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo. Ảnh: Quang Khánh
Theo đó, tư duy lập pháp cần vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống, hướng tới việc kiên tạo khung pháp lý cho các lĩnh vực mới như kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cần tập trung xây dựng thể chế số, pháp luật số tạo hành lang pháp lý cho những vấn đề mới, phi truyền thống để hình thành các động lực tăng trưởng mới, các quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mới, các ngành công nghiệp mới. Áp dụng hợp lý cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để triển khai và ứng dụng các công nghệ mới, cho phép thử nghiệm các hoạt động kinh doanh sáng tạo trong phạm vi và thời gian xác định, dưới sự giám sát của các nhà quản lý để đánh giá, kiểm nghiệm và điều chỉnh trước khi trở thành chính sách chung.
Mặt khác, năng lực lập pháp, quy trình, kỹ thuật lập pháp cần được cải tiến để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới; phát huy vai trò của nhân dân và các tổ chức xã hội trong quá trình lập pháp. Cụ thể, tiếp tục nghiên cứu để cải tiến, đổi mới quy trình, kỹ thuật lập pháp theo hướng chuyên nghiệp, khoa học; tiếp tục chuẩn hóa, bảo đảm mỗi dự án luật đều trải qua các bước đánh giá tác động kinh tế - xã hội, tổng kết thực tiễn và tham vấn ý kiến chuyên gia; làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động lập hiến, lập pháp; tăng cường tính khoa học trong quá trình phân tích chính sách, xây dựng quy phạm pháp luật.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đại biểu tham quan khu trưng bày về kết quả chuyển đổi số của Quốc hội. Ảnh: Phạm Thắng
Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số trong quá trình soạn thảo, thẩm tra và giám sát thi hành pháp luật như sử dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích tác động chính sách hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật trực tuyến minh bạch, dễ tiếp cận.
Phát triển đội ngũ công chức tham mưu công tác lập pháp có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư cách đạo đức tốt, thành thạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không thờ ơ, vô cảm với quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Tiếp tục nghiên cứu thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng của các đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan của Quốc hội.
Bên cạnh việc ban hành pháp luật, Quốc hội cần tập trung hoàn thiện cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả thi hành, trong đó cần chú trọng giám sát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, để bảo đảm pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, tránh tình trạng thiếu tính khả thi. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng, bao gồm các nguyên tắc, tiêu chí, công cụ đo lường để đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn với mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Chú trọng việc tổng kết, đánh giá hiệu quả việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường cơ chế giám sát, hậu kiểm, chủ động phát hiện, tháo gỡ nhanh nhất các điểm nghẽn có nguyên nhân từ các quy định của pháp luật; tăng cường năng lực phản ứng chính sách để kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc pháp lý của người dân, doanh nghiệp, củng cố niềm tin và đồng thuận xã hội trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Nhìn về tương lai, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình với những cơ hội và thách thức mới, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện quy trình và kỹ thuật lập pháp để xây dựng một hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Với truyền thống 80 năm vẻ vang và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đồng hành của Nhân dân, Quốc hội Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vị thế trung tâm trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đưa Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thịnh vượng vào năm 2045.













