80 năm viết tiếp bản hùng ca 'Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh'

80 năm sau mùa đông lịch sử năm 1946, tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tiếp tục được nhắc lại qua những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường, nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn và công việc của người lính hôm nay. Những mạch chuyện ấy được nối dài tại Tọa đàm giao lưu nhân chứng lịch sử “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh - Bản hùng ca 80 năm”.

80 năm một mạch nguồn nối dài qua các thế hệ

Tọa đàm do Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức tối 6.10 tại Hà Nội.

Tại tọa đàm, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Nhân, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội nhấn mạnh về ý nghĩa của việc ôn lại truyền thống, tri ân những thế hệ đã chiến đấu, hy sinh. Qua đó tiếp nối tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Thủ đô hôm nay.

Ban Tổ chức tặng hoa các "nhân chứng lịch sử"

Ban Tổ chức tặng hoa các "nhân chứng lịch sử"

Tham gia tọa đàm có các khách mời gồm: Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn 361 (Quân chủng Phòng không - Không quân), người trực tiếp trải qua 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”; Đại tá Nguyễn Xuân Hà; đảng viên trẻ Nguyễn Viết Thịnh, Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực phường Ô Chợ Dừa; Trung tướng Đào Văn Nhận, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam); Thượng úy Kiều Ngọc Hưng, Chính trị viên Đại đội Phòng hóa, Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.

Ở phần giao lưu “Mạch nguồn Quyết tử”, khán giả được trở về mùa đông năm 1946 qua thước phim tư liệu “Những Vệ Út năm xưa”. Giữa 60 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thủ đô, có những chiến sĩ liên lạc của Trung đoàn Thủ đô mới 13, 14 tuổi. Tuổi còn nhỏ nhưng họ đã hoạt động giữa bom đạn, góp sức cùng quân và dân Hà Nội giữ từng ngôi nhà, góc phố.

Từ chiến lũy mùa đông năm 1946, câu chuyện được nối đến Hà Nội tháng 12.1972 qua ký ức của Đại tá Đinh Thế Văn. Ông nhớ lại: Để chuẩn bị đối đầu với loại máy bay được coi là “pháo đài bay”, từ trước đó Tiểu đoàn 77 đã nhiều lần nghiên cứu tính năng, kỹ thuật, chiến thuật của B-52, phân tích thủ đoạn, đường bay và luyện tập phương án tác chiến. “Học ngày không đủ, Tiểu đoàn tranh thủ học đêm. Suốt 12 ngày đêm, chúng tôi không có một giấc ngủ ngon”, Đại tá Đinh Thế Văn kể.

Các đại biểu dự chương trình

Các đại biểu dự chương trình

Đêm 18, rạng sáng 19.12.1972, khi phát hiện B-52, kíp chiến đấu theo dõi mục tiêu, vận dụng phương pháp “đánh 3 điểm” kết hợp “vượt nửa góc”, tập trung phân biệt dải nhiễu để bám đúng mục tiêu. Đến 4h39, hai quả tên lửa được phóng ở cự ly 26km và 25km, đánh trúng B-52.

“Trận đánh này, chúng tôi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, chờ địch vào để đánh chứ không bị bất ngờ”, Đại tá Đinh Thế Văn chia sẻ.

Đằng sau chiến thắng, qua lời kể của người trực tiếp chỉ huy trận đánh, không chỉ có lòng dũng cảm mà còn là sự chuẩn bị, nghiên cứu đối phương, luyện tập và khả năng tìm cách khắc chế nhiễu điện tử.

Nếu những nhân chứng lịch sử đem đến cho tọa đàm ký ức của người đã đi qua chiến tranh thì những người trẻ lại thể hiện cách truyền thống ấy được tiếp nhận như thế nào.

Câu chuyện của Nguyễn Viết Thịnh là một lát cắt như vậy. Sau khi tốt nghiệp đại học, thay vì lựa chọn ngay công việc văn phòng đúng chuyên ngành, anh tự nguyện tham gia lực lượng Dân quân thường trực và hiện là Tiểu đội trưởng Dân quân thường trực phường Ô Chợ Dừa. Với lực lượng dân quân hôm nay, nhiệm vụ không chỉ là sẵn sàng xử lý các tình huống liên quan đến an ninh, trật tự mà còn tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn khi cần thiết.

Một điểm lắng khác của chương trình là sự hiện diện của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Mạnh. Chồng Mẹ là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Thoi, hy sinh năm 1969 trong kháng chiến chống Mỹ; người con trai út là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Hải, hy sinh năm 1988 khi làm nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc. Khi những đoàn viên, học sinh, chiến sĩ trẻ quây quần bên Mẹ, khoảng cách giữa những trang lịch sử và thế hệ hôm nay dường như được rút ngắn.

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Thế Văn, Đại tá Nguyễn Xuân Hà, đảng viên trẻ Nguyễn Viết Thịnh tham gia phần giao lưu “Mạch nguồn Quyết tử”

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đinh Thế Văn, Đại tá Nguyễn Xuân Hà, đảng viên trẻ Nguyễn Viết Thịnh tham gia phần giao lưu “Mạch nguồn Quyết tử”

Viết tiếp bản hùng ca bằng nhiệm vụ của thời bình

Nếu phần đầu của tọa đàm đi tìm mạch nguồn, thì phần “Viết tiếp bản hùng ca” đặt ra câu hỏi quan trọng hơn: Tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được thể hiện như thế nào khi đất nước không còn chiến tranh?

Các khách mời khẳng định, trong thời bình, những nguy cơ đối với an toàn của Thủ đô đã thay đổi. Bên cạnh nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu là yêu cầu ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, thiên tai, cháy nổ, sự cố và những tình huống cứu hộ, cứu nạn.

Trung tướng Đào Văn Nhận phân tích tập trung vào cách tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” được chuyển hóa trong công tác tham mưu, xử lý tình huống; mối quan hệ giữa nhiệm vụ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội; cùng những yếu tố làm nên hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Thủ đô.

Đối với những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ như Thượng úy Kiều Ngọc Hưng, đó là những công việc cụ thể: Trong lũ quét, sạt lở hay hỏa hoạn, khi người dân tìm cách rời khỏi nơi nguy hiểm thì người lính nhiều khi phải đi theo chiều ngược lại để cứu người, bảo vệ tài sản.

Chính trong những tình huống ấy, phẩm chất người lính thời bình được kiểm chứng không bằng lời nói, mà bằng năng lực, kỷ luật, trách nhiệm và khả năng có mặt đúng lúc khi nhân dân cần.

Các khách mời ở phần giao lưu “Viết tiếp bản hùng ca”

Các khách mời ở phần giao lưu “Viết tiếp bản hùng ca”

Từ góc nhìn văn hóa, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng, tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không hình thành một cách ngẫu nhiên mà được nuôi dưỡng từ chiều sâu lịch sử, văn hóa và truyền thống yêu nước của Thăng Long - Hà Nội. Trong những thời khắc đất nước đứng trước thử thách, phẩm chất ấy được thể hiện bằng ý chí bảo vệ từng ngôi nhà, góc phố trong mùa đông năm 1946, rồi tiếp tục được khẳng định bằng bản lĩnh, trí tuệ trong 12 ngày đêm chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội cuối năm 1972.

Theo TS Nguyễn Viết Chức, chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” vì thế không chỉ mang ý nghĩa quân sự. Đằng sau chiến thắng ấy là trí tuệ, ý chí và khả năng sáng tạo của con người Việt Nam trước một đối phương có ưu thế vượt trội về phương tiện, vũ khí hiện đại. Điều đặc biệt ở con người Hà Nội là trong những thời khắc khốc liệt nhất vẫn thể hiện được sự kiên cường, bình tĩnh, đồng thời gìn giữ nét văn hóa, sự thanh lịch, hào hoa vốn có.

Sau hai giờ giao lưu, những câu chuyện từ chiến lũy Hà Nội năm 1946, trận địa phòng không năm 1972 đến thao trường thời bình đã nối liền các thế hệ người lính Thủ đô. Hoàn cảnh và nhiệm vụ đã khác, nhưng điều được trao lại vẫn là bản lĩnh, trách nhiệm và tinh thần sẵn sàng nhận việc khó. Bởi truyền thống chỉ thực sự được tiếp nối khi những giá trị của quá khứ hiện diện trong cách mỗi người hoàn thành nhiệm vụ của mình.

X.QUANG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/doi-song/80-nam-viet-tiep-ban-hung-ca-quyet-tu-de-to-quoc-quyet-sinh-272266.html