An Giang chủ động quản trị rủi ro thiên tai trước thời tiết cực đoan
Thiên tai ngày càng diễn biến khó lường, An Giang đang chuyển mạnh từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa, lấy dự báo, công trình thủy lợi và bảo vệ sản xuất làm trọng tâm.
Những tháng cuối năm 2026, An Giang bước vào mùa lũ trong bối cảnh nguy cơ thiên tai đan xen: lũ, triều cường, bão, áp thấp nhiệt đới, sạt lở, sụt lún. Trong khi đó, từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027, hạn hán và xâm nhập mặn tiếp tục được cảnh báo. Diễn biến này đặt ra yêu cầu không chỉ ứng phó khi thiên tai xảy ra, mà phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro từ sớm.
Theo ông Lương Huy Khanh, Quyền Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, trong năm 2026, địa bàn tỉnh chịu tác động của nhiều loại hình thiên tai, từ hạn hán, xâm nhập mặn đến sụt lún, sạt lở, bão và áp thấp nhiệt đới.
Chủ động từ dự báo, cảnh báo đến từng vùng có nguy cơ
Trước yêu cầu thích ứng với thời tiết cực đoan, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều phương án, kế hoạch phòng, chống thiên tai, tập trung vào các nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ngập lụt nội đồng và triều cường.

An Giang đang chịu nhiều thời tiết cực đoan.
Đáng chú ý, An Giang đang xây dựng phương án tổng thể ứng phó với các loại hình thiên tai trên địa bàn, dự kiến trình UBND tỉnh trong tháng 9/2026. Phương án sẽ xác định các khu vực có nguy cơ, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng sở, ngành và địa phương.
Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa trong quản trị môi trường khi rủi ro thiên tai không còn xuất hiện riêng lẻ. Một đợt mưa lớn có thể đồng thời tạo áp lực lên hệ thống tiêu thoát nước, sản xuất nông nghiệp và các khu vực có nguy cơ sạt lở; trong khi triều cường, lũ và hoạt động vận hành công trình thủy lợi có thể tác động qua lại.
Từ đầu năm đến nay, ngành chức năng đã tham mưu Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh, UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành hơn 40 văn bản chỉ đạo về phòng, chống thiên tai. Cùng với đó là hơn 20 đợt kiểm tra thực địa về sản xuất và công tác ứng phó tại các địa phương.
Công tác thông tin, dự báo và cảnh báo cũng được duy trì thường xuyên. Các bản tin khí tượng thủy văn từ Trung ương và địa phương được cập nhật, chuyển đến các sở, ngành, địa phương và người dân nhằm phục vụ việc triển khai phương án ứng phó.
Quản trị nguồn nước để giảm thiệt hại cho sản xuất
Một trong những giải pháp trọng tâm của An Giang là chủ động điều tiết nguồn nước thông qua hệ thống công trình thủy lợi, vừa kiểm soát mặn, lũ, triều cường, vừa bảo đảm sản xuất tại khu vực Tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu.

Cơ quan chức năng có kế hoạch xả lũ qua 2 cống Tha La và Trà Sư để đảm bảo an toàn cho người dân.
Tỉnh đang triển khai kế hoạch xả lũ vụ Thu Đông đối với các tiểu vùng sản xuất với quy mô dự kiến khoảng 46.000ha. Ngày 25/8, ngành chức năng phối hợp Công ty Khai thác Thủy lợi An Giang thống nhất kế hoạch xả lũ qua hai cống Tha La và Trà Sư theo quy trình vận hành, góp phần bảo đảm an toàn cho khu vực Tứ giác Long Xuyên.
Ở góc độ môi trường, việc vận hành thủy lợi ngày càng phải được nhìn nhận như một bài toán quản trị tài nguyên nước. Không chỉ bảo đảm tiêu thoát nước khi có lũ, hệ thống công trình còn phải đáp ứng yêu cầu sản xuất, hạn chế tác động của triều cường và chuẩn bị cho nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn trong giai đoạn tiếp theo.
Cùng với các giải pháp phòng ngừa, chính sách hỗ trợ sau thiên tai cũng được triển khai. Ngành chức năng đã tham mưu UBND tỉnh thực hiện hai đợt xuất Quỹ Phòng, chống thiên tai để hỗ trợ người dân bị thiệt hại; trong đó đợt 1 khoảng 3,9 tỷ đồng, đợt 2 795 triệu đồng cho 12 xã, phường. Tỉnh tiếp tục rà soát nhu cầu thực tế để tham mưu hỗ trợ theo quy định.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất định của thời tiết, yêu cầu đặt ra với An Giang không chỉ là chuẩn bị lực lượng, phương tiện khi thiên tai xảy ra. Quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu, cảnh báo sớm, phân vùng nguy cơ và vận hành linh hoạt các công trình thủy lợi.
Đây cũng là nền tảng để bảo vệ sản xuất, tài nguyên nước và sinh kế người dân, hướng tới khả năng thích ứng dài hạn thay vì chỉ xử lý hậu quả sau mỗi đợt thiên tai.


