An Giang siết quản lý nghề cá, bịt “khoảng trống” chống IUU

Chống khai thác IUU không thể chỉ là những đợt cao điểm kiểm tra, mà phải trở thành cơ chế quản lý thường xuyên, trong đó mỗi con tàu, chuyến biển và sản lượng khai thác đều phải được kiểm soát bằng dữ liệu và trách nhiệm cụ thể.

Vừa qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo chống khai thác IUU tỉnh tháng 9/2026.

Cuộc họp diễn ra trong thời điểm công tác chống khai thác IUU bước vào giai đoạn yêu cầu cao hơn: không chỉ khắc phục những tồn tại đã được nhận diện mà phải chứng minh được năng lực quản lý thực chất, liên tục và có thể kiểm chứng.

Với một tỉnh có đội tàu khai thác lớn, bài toán đặt ra với An Giang không đơn thuần là “giữ tàu không vi phạm”, mà là làm thế nào để mỗi mắt xích của chuỗi khai thác – từ đăng ký, đăng kiểm, cấp phép, giám sát hành trình, cập cảng, bốc dỡ đến xác nhận nguồn gốc – không còn điểm đứt gãy.

An Giang siết quản lý nghề cá, bịt “khoảng trống” chống IUU.

An Giang siết quản lý nghề cá, bịt “khoảng trống” chống IUU.

Không để một con tàu trở thành “điểm mù” quản lý

Theo báo cáo tại cuộc họp, đến ngày 22/9, An Giang có 10.906/10.906 tàu cá đã đăng ký, được cập nhật đầy đủ thông tin trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase.

Trong số 3.545 tàu cá đang tham gia khai thác, có 3.537 tàu đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS). 8 tàu chưa lắp đặt VMS đều không tham gia hoạt động khai thác và đang được quản lý, theo dõi.

Từ đầu năm đến ngày 22/9, các lực lượng chức năng đã kiểm soát 12.440 lượt tàu cá cập, rời cảng, với 100% tàu cá ra, vào cảng được khai báo qua hệ thống eCDT.

Những con số này cho thấy hệ thống quản lý đã được phủ rộng. Nhưng trong quản trị nghề cá, “có dữ liệu” mới chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là dữ liệu đó phải được cập nhật chính xác, kết nối giữa các cơ quan và biến thành hành động quản lý cụ thể. Đây cũng chính là điểm mà An Giang cần tiếp tục siết chặt.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức yêu cầu các địa phương phải xác định cụ thể vị trí neo đậu, phân công tổ chức, cá nhân theo dõi từng tàu cá, nhất là những tàu không hoạt động, tàu không đủ điều kiện khai thác, tàu có nguy cơ cao và tàu vi phạm quy định về VMS.

Tinh thần chỉ đạo được đặt ra rất rõ: không để tàu cá không đủ điều kiện ra biển; không để mất kiểm soát khi tàu rời cảng; không để vi phạm chỉ được phát hiện sau khi hậu quả đã xảy ra.

Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy quản lý. Chống IUU nếu chỉ tập trung vào xử phạt sau vi phạm thì luôn đi sau thực tế. Quản lý hiệu quả phải bắt đầu từ việc nhận diện nguy cơ và ngăn chặn từ trước khi tàu ra khơi.

Bộ đội Biên Phòng Cửa khẩu Dương Đông tuyên truyền cho ngư dân về chống IUU.

Bộ đội Biên Phòng Cửa khẩu Dương Đông tuyên truyền cho ngư dân về chống IUU.

Đặc biệt, trước nguy cơ tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài, ông Ngô Công Thức đề nghị các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát tại các khu vực giáp ranh, chồng lấn và khu vực có nguy cơ cao; đồng thời chia sẻ thông tin để chủ động ngăn chặn từ sớm, từ xa.

Thông điệp này có ý nghĩa không chỉ đối với một đợt kiểm tra hay một kỳ thanh tra. Nó đặt ra yêu cầu về trách nhiệm đến cùng của hệ thống quản lý: biết tàu ở đâu, đang làm gì, có đủ điều kiện hoạt động hay không và khi phát sinh bất thường thì ai chịu trách nhiệm xử lý.

Từ chống IUU đến xây dựng nghề cá có trách nhiệm

Một nền nghề cá bền vững không thể được đo bằng số vụ xử phạt, mà phải được nhìn từ khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi khai thác.

Từ ngày 1/1 đến 22/9/2026, sản lượng thủy sản bốc dỡ qua các cảng trên địa bàn tỉnh đạt 22.399 tấn, toàn bộ được cập nhật qua hệ thống eCDT.

Ban Quản lý cảng cá An Giang đã cấp 88 giấy xác nhận nguồn gốc thủy sản (SC) với tổng khối lượng 1.296 tấn.

Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư cấp 87 giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác (CC) với khối lượng 810,681 tấn vào thị trường châu Âu; đồng thời cấp 12 giấy chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ (COA) với khối lượng 197,698 tấn.

Lực lượng chức năng tuần tra trên biển.

Lực lượng chức năng tuần tra trên biển.

Riêng giấy CC được thực hiện qua hệ thống eCDT là 72 giấy, tương ứng 673,963 tấn.

Đằng sau những con số về sản lượng và giấy chứng nhận là một yêu cầu lớn hơn: mỗi kilogram thủy sản phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.

Đó không chỉ là yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Đây còn là thước đo năng lực quản trị tài nguyên biển.

Khai thác vượt quy định, xâm phạm vùng biển nước ngoài hay đưa sản phẩm không rõ nguồn gốc vào chuỗi xuất khẩu đều làm suy giảm niềm tin đối với cả ngành thủy sản. Ngược lại, kiểm soát tốt nguồn gốc không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu chống IUU mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giảm áp lực khai thác và hướng ngành thủy sản đến phát triển lâu dài.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức yêu cầu tiếp tục kiểm soát chặt sản lượng thủy sản bốc dỡ qua cảng; thu đầy đủ nhật ký khai thác, nhật ký thu mua, chuyển tải; thực hiện xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác và cập nhật đầy đủ hồ sơ trên hệ thống eCDT.

Đối với những vụ việc chưa xử lý dứt điểm, lãnh đạo tỉnh yêu cầu rà soát từng vụ, xác định rõ nội dung còn thiếu, nguyên nhân, trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.

Những vụ việc có dấu hiệu tội phạm phải được tăng cường điều tra, xử lý, trong đó tập trung vào hành vi tổ chức, môi giới đưa tàu cá và ngư dân khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài khi có đủ căn cứ pháp lý.

Đáng chú ý, An Giang cũng đặt vấn đề chuyển đổi nghề và giải bản đối với những tàu cá không còn nhu cầu hoạt động khai thác.

Đây là hướng tiếp cận cần thiết nếu muốn giải quyết vấn đề IUU từ gốc. Bởi nếu năng lực khai thác vượt quá khả năng phục hồi của nguồn lợi, việc chỉ tăng cường kiểm tra và xử phạt sẽ khó tạo ra một nền nghề cá bền vững.

Chống IUU, vì thế, không nên được nhìn như một chiến dịch hành chính có điểm bắt đầu và kết thúc. Đó phải là quá trình tái cấu trúc phương thức quản lý nghề cá, trong đó dữ liệu, trách nhiệm công vụ, giám sát hành trình, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ nguồn lợi phải vận hành như một hệ thống thống nhất.

“Không để khoảng trống quản lý” vì vậy không chỉ là yêu cầu đối với từng con tàu. Đó là yêu cầu đối với toàn bộ chuỗi quản lý phía sau con tàu.

An Giang có 10.906/10.906 tàu cá đã đăng ký, được cập nhật đầy đủ thông tin trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase.

An Giang có 10.906/10.906 tàu cá đã đăng ký, được cập nhật đầy đủ thông tin trên cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase.

Nếu một tàu cá mất tín hiệu mà không được xác minh kịp thời, một chuyến biển thiếu nhật ký nhưng vẫn lọt qua khâu kiểm soát, hay một sản lượng không đủ căn cứ nguồn gốc vẫn đi vào chuỗi tiêu thụ, thì khoảng trống ấy không còn là vấn đề kỹ thuật. Đó là khoảng trống của quản trị.

Trong tiến trình khắc phục cảnh báo IUU và hướng tới một nghề cá có trách nhiệm, An Giang đang đứng trước yêu cầu phải biến những con số 100% cập nhật dữ liệu, 100% khai báo eCDT thành năng lực quản lý thực chất. Khi mỗi con tàu được nhận diện, mỗi chuyến biển được giám sát và mỗi sản phẩm có thể truy xuất đến nguồn khai thác hợp pháp, chống IUU mới thực sự trở thành một phần của chiến lược bảo vệ tài nguyên biển và phát triển kinh tế xanh.

Thanh Xuân

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/an-giang-siet-quan-ly-nghe-ca-bit-khoang-trong-chong-iuu-118917.html