Đừng để trẻ em phải gánh chịu tranh chấp của người lớn trên mạng xã hội
Nhiều cuộc tranh chấp về quan hệ tình cảm, xác định cha con, nuôi dưỡng, cấp dưỡng được cha mẹ đưa lên mạng xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền riêng tư, hình ảnh, danh dự và lợi ích lâu dài của trẻ em. Khi thông tin đã trở thành “dấu vết số”, đứa trẻ có thể phải đối diện với những hệ lụy dù không phải là chủ thể tạo ra tranh chấp.
Quyền riêng tư của trẻ được pháp luật bảo vệ
Mới đây, TAND Khu vực 2, TP Hồ Chí Minh vừa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về tranh chấp xác định cha cho con giữa nguyên đơn là ông Trịnh Trần Phương Tuấn (ca sĩ Jack - J97) và bị đơn là bà Trần Nguyễn Thiên An. Căn cứ kết quả giám định ADN, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xác định Jack là cha đẻ của bé Đ, 5 tuổi.
Trước đó, những câu chuyện liên quan đến quan hệ tình cảm, quá trình chăm sóc con, trách nhiệm cấp dưỡng giữa hai bên đã nhiều lần xuất hiện trên mạng xã hội và thu hút sự quan tâm của dư luận. Tại phiên toà, hội đồng xét xử cũng yêu cầu các bên liên quan cần bình tĩnh, hành xử chuẩn mực và tiết chế trên mạng xã hội. Việc để câu chuyện đời tư lan truyền mất kiểm soát có thể tạo ra dư luận tiêu cực, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý của bé Đ. khi em lớn lên.

Ca sĩ Jack-J97. Ảnh: FBNV
Luật Hôn nhân và gia đình quy định cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên; đồng thời có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, tạo điều kiện cho con học tập và phát triển. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc những câu chuyện riêng tư liên quan trẻ có thể trở thành nội dung trên mạng xã hội để công chúng tự do khai thác. Theo TS, luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, điều quan trọng trong những vụ việc tương tự là cần phân biệt giữa tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người lớn với quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Việc xác định cha cho con, nghĩa vụ cấp dưỡng, quyền chăm sóc, nuôi dưỡng hay những bất đồng giữa cha và mẹ là những vấn đề pháp lý có thể được giải quyết thông qua các cơ chế tố tụng và quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi những thông tin về đời tư, quan hệ tình cảm, hoàn cảnh gia đình, quá trình nuôi dưỡng, cấp dưỡng hoặc các thông tin liên quan đến trẻ được đưa lên mạng xã hội, một vấn đề khác có thể phát sinh: nguy cơ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ bị ảnh hưởng.
"Trẻ em không phải chủ thể tạo ra tranh chấp nhưng có thể phải gánh chịu hậu quả từ tranh chấp của người lớn. Một thông tin được đăng tải trên mạng có thể bị sao chép, chụp lại, cắt ghép và chia sẻ trên nhiều nền tảng. Ngay cả khi nội dung ban đầu bị xóa, thông tin chưa chắc đã biến mất hoàn toàn", Luật sư Cường phân tích.
Theo luật sư Đặng Văn Cường, Luật Trẻ em hiện hành quy định trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ; đồng thời được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và các thông tin riêng tư.
Điều 54 Luật Trẻ em cũng quy định trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Theo đó, cha mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ có trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn kỹ năng để trẻ tự bảo vệ mình; các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức hoạt động trên môi trường mạng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em.
Như vậy, những thông tin về cha mẹ, người chăm sóc, hoàn cảnh gia đình, hình ảnh hoặc các dữ liệu có khả năng nhận diện trẻ cần được cân nhắc khi công khai. Không thể chỉ vì cha hoặc mẹ là người của công chúng mà mặc nhiên coi đời tư của con cũng thuộc về công chúng.
Đừng để tranh chấp trở thành “dấu vết số” của con
Trong thực tế, khi phát sinh tranh chấp, cha hoặc mẹ có thể muốn công khai tin nhắn, hình ảnh, sao kê hoặc các tài liệu liên quan để chứng minh quan điểm và các quyền lợi khác của mình. Tuy nhiên, cần phân biệt việc cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền với việc đưa chứng cứ lên mạng xã hội để công chúng phán xét. Trong trường hợp cần chứng minh phục vụ quá trình điều tra, xét xử, các bên có thể cung cấp các tài liệu liên quan cho tòa án. "Nhưng quá trình chứng minh đó chỉ được cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, chứ không phải đưa lên cộng đồng mạng để có những phán xét đa chiều từ xã hội”, luật sư Đặng Văn Cường nhấn mạnh.

TS. luật sư Đặng Văn Cường. Ảnh: Thanh Hải
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân về nguyên tắc phải được người đó đồng ý; đối với thông tin liên quan đến bí mật gia đình, phải có sự đồng ý của các thành viên gia đình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Với đối tượng đặc thù như trẻ em, khoản 2, Điều 24 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cũng quy định rõ: Việc xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em nhằm công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của trẻ em và người đại diện theo pháp luật.
Một trong những hệ lụy của việc đưa tranh chấp gia đình lên mạng xã hội là thông tin có thể tồn tại lâu hơn chính cuộc tranh chấp. Một đứa trẻ hôm nay có thể chưa hiểu đầy đủ câu chuyện của cha mẹ, nhưng nhiều năm sau có thể bắt gặp chính những thông tin ấy khi tìm kiếm tên mình trên mạng. Khi đó, trẻ có thể phải đối diện với câu hỏi, bình luận, sự tò mò hoặc định kiến từ những người xung quanh về một câu chuyện mà mình không tạo ra và cũng không có khả năng kiểm soát.
Do đó, trước khi công khai thông tin liên quan đến con, cha mẹ cần cân nhắc hàng loạt các vấn đề: Thông tin đó có thực sự cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình hay không; có cách nào khác ít ảnh hưởng đến trẻ hơn hay không; việc công khai có làm lộ danh tính, hình ảnh hoặc đời sống riêng tư của trẻ hay không? Đặc biệt, những hình ảnh nhạy cảm, tin nhắn riêng tư, thông tin về sức khỏe, trường học, địa chỉ hoặc những chi tiết có thể khiến trẻ xấu hổ, mặc cảm, bị chế giễu, kỳ thị cần được loại khỏi cuộc tranh luận công khai.
Trong thời đại số, bảo vệ trẻ em không chỉ là bảo vệ các em khỏi những nguy cơ đang hiện hữu, mà còn là bảo vệ một tương lai trong đó các em không phải đối diện với những “dấu vết số” do người lớn để lại từ nhiều năm trước.
