Án lệ về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
Một vụ án ly hôn giữa vợ là người Việt Nam và chồng là người nước ngoài được chọn làm Án lệ...
Vừa qua, TAND Tối cao đã công bố 10 án lệ. Trong đó, có Án lệ số 82/2025 về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn.
Nguồn án lệ dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 02/2022/HNGĐ-GĐT ngày 13-1-2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về vụ án tranh chấp ly hôn và chia tài sản giữa nguyên đơn là ông E với bị đơn là bà C.

Án lệ về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn. Ảnh minh họa/YC
Nội dung vụ án được chọn làm án lệ
Theo ông E, ông và bà C kết hôn tại UBND tỉnh Bình Định cũ (nay là tỉnh Gia Lai). Ngày 2-11-2016, ông E xin ly hôn bà C, về con chung và nợ chung không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung có mảnh đất 1.288m² (gồm nhiều thửa đất) tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng), vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông P, bà P1 với giá 600 triệu đồng. Tuy nhiên, bà C đã lừa dối ông với lý do ông là người nước ngoài, không thể đứng tên nên để bà C đứng tên, nhưng bà C lại để cho ông D, bà B (là anh, chị của bà C) đứng tên với tư cách là người mua đất. Trên đất, hai vợ chồng ông đã xây nhà.
Ngoài ra, vợ chồng ông còn mua 600m² đất từ bà N với giá 280 triệu đồng. Vì hạn chế ngôn ngữ, tin tưởng bà C và ông là người nước ngoài, không được đứng tên giấy chứng nhận được nên ông đã để cho bà C đứng tên.
Nay ông đề nghị tòa án chia đôi các tài sản trên với tổng số tiền là 1,63 tỉ đồng.
Bà C thì thống nhất với ông E về việc kết hôn, con chung và đồng ý ly hôn. Nhưng về tài sản chung, bà cho rằng không có tài sản chung. Các tài sản mà ông E nói là tài sản riêng của bà và các anh, chị của bà. Bà cũng không nhận tiền của ông E để mua đất và xây dựng nhà như ông E nói nên không đồng ý với yêu cầu của ông E.
Ông D, bà B (là anh, chị của bà C) thì cho rằng đây là tài sản riêng của họ. Trong khi đó, phía người bán (ông P, bà P1, bà N) đều cho rằng đã chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông E và bà C.
Xử sơ thẩm tháng 11-2017, TAND tỉnh Bình Thuận công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông E với bà C. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản của ông E, xác định các thửa đất và căn nhà là tài sản chung, công sức đóng góp của vợ chồng là ngang nhau. Bà C được quyền sở hữu, quản lý và sử dụng diện tích 1.888m² đất và căn nhà, có nghĩa vụ hoàn lại cho ông E số tiền hơn 1,5 đồng.
Bà C, ông E, ông D, bà B đều kháng cáo. Xử phúc thẩm, TAND Cấp cao tại TP.HCM sửa bản án sơ thẩm, vì cho rằng thửa đất không phải tài sản chung. Từ đó, HĐXX phúc thẩm giao cho bà C được sử dụng toàn bộ diện tích đất và sở hữu căn nhà. Buộc bà C thối trả cho ông E 30% giá trị quyền sử dụng đất và 20% giá trị nhà. Tổng giá trị tài sản (tạm tính) ông E được nhận là hơn 426 triệu đồng. Tổng giá trị tài sản (tạm tính) bà C được nhận là hơn 1,4 tỉ đồng.
Ông E có đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 23-11-2021, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị hủy cả hai bản án về phần chia tài sản chung; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Bình Thuận xét xử lại. Sau đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị này.
Nhận định của cấp giám đốc thẩm
Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng thửa đất có diện tích 291,3m² bà C cho rằng là tài sản riêng của bà mua từ trước khi kết hôn với ông E, nguồn tiền là của cá nhân bà. Tuy nhiên, theo xác nhận của bà N thì bà chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông E và bà C.
Bà N còn cho rằng do bà C nói ông E là người nước ngoài nên không được đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng và cũng không được mua đất tại Việt Nam. Theo Điều 9 Luật Đất đai năm 2003 thì người nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Do đó, chỉ có mình bà C đứng tên tại hợp đồng chuyển nhượng và UBND cấp giấy cho mình bà C là phù hợp với lời khai của ông E và bà N.
Cạnh đó, mặc dù hợp đồng ký ngày 9-7-2013 được ký trước khi ông E và bà C đăng ký kết hôn (ngày 6-8-2013) nhưng ngày 16-4-2013, ông E và bà C đã có tờ khai đăng ký kết hôn và đã tổ chức lễ cưới vào tháng 7-2013.
Do đó, có cơ sở xác định thửa đất này là tài sản chung của ông E và bà C. Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung của ông E và bà C là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm xác định là tài sản riêng của bà C là không đúng.
Đối với diện tích 1.288m² đất mà anh chị của bà C đứng tên. Người chuyển nhượng là ông P và bà P1 xác định chỉ chuyển nhượng đất cho ông E và bà C. Ông P và bà P1 còn trình bày rằng bà C nói ông E là người nước ngoài nên không được mua đất tại Việt Nam. Tại thời điểm này, Luật Đất đai năm 2003 cũng không cho phép người nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Như vậy, lời khai của ông P, bà P1 và ông E là có cơ sở.
Trên thực tế, anh chị của bà C cũng không quản lý, sử dụng các thửa đất nêu trên mà do ông E và bà C quản lý, sử dụng và xây dựng căn nhà. Khi xây dựng nhà, người thi công xây dựng nhà xác nhận ông E và bà C là người trả tiền xây dựng nhà.
Như vậy, có cơ sở xác định diện tích đất này là tài sản chung của ông E và bà C, không phải là tài sản của anh, chị bà C. Tòa án cấp sơ thẩm xác định các thửa đất này là tài sản chung của ông E và bà C là đúng. Tuy nhiên, tại giấy chứng nhận đã đứng tên anh, chị của bà C nhưng tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tính hợp pháp của 2 giấy chứng nhận này là chưa giải quyết triệt để vụ án.
Về việc phân chia tài sản chung, tòa án cấp phúc thẩm chia công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo dựng tài sản là các thửa đất theo tỷ lệ bà C được hưởng 70%, ông E được hưởng 30% là chưa đảm bảo quyền lợi của ông E. Và cũng không phù hợp với nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng công sức đóng góp đối với quyền sử dụng đất của ông E và bà C là ngang nhau nên chia đôi giá trị quyền sử dụng đất là có căn cứ.
Riêng về giá trị nhà, tòa án cấp phúc thẩm xác định căn nhà là tài sản chung của ông E và bà C nhưng cho rằng khi xây dựng nhà ông E bỏ đi nơi khác sống, một mình bà C xây dựng hoàn thiện ngôi nhà nên chia cho ông E được hưởng 20% giá trị ngôi nhà là phù hợp.
Về định giá quyền sử dụng đất
Về việc định giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của tòa án cấp phúc thẩm, trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ chứng thư thẩm định giá ngày 7-6-2017 của công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá M để xác định giá trị quyền sử dụng đất là hơn 1,87 tỉ đồng, công trình xây dựng và tài sản trên đất là hơn 1,2 tỉ đồng. Ông E cho rằng việc định giá của tòa án cấp sơ thẩm là không đúng nên đề nghị tòa án cấp phúc thẩm tiến hành định giá lại.
Tòa án cấp phúc thẩm đã ủy thác cho TAND tỉnh Bình Thuận tiến hành định giá lại nhưng cho rằng do bà C không hợp tác nên không định giá lại được. Vì vậy, phía ông E mời công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá M định giá lại tài sản thì giá trị quyền sử dụng đất là hơn 3,8 tỉ đồng, công trình xây dựng và tài sản trên đất là hơn 1,2 tỉ đồng.
Tuy nhiên, tòa án cấp phúc thẩm xác định việc định giá lại tài sản nêu trên là không cần thiết và giải quyết trên cơ sở kết quả định giá tài sản của tòa án cấp sơ thẩm là không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông E.
(Theo Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao)
Khái quát nội dung của án lệ
Tình huống án lệ:
Vợ chồng có một bên là người nước ngoài, hai bên đã có tờ khai đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới. Sau đó, một bên vợ chồng là người Việt Nam đứng tên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi vợ chồng đăng ký kết hôn. Bên chuyển nhượng xác nhận đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng.
Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định quyền sử dụng đất do một bên nhận chuyển nhượng là tài sản chung của vợ chồng.












