Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Đình Xô-Ngọn lửa bất khuất từ nhà tù Phú Quốc
'Trưởng khu giam gọi anh đi/ Biết rằng chúng sẽ làm gì hôm nay/ Nghẹn lời, vội vã chia tay/ Anh em đồng chí đắng cay ngọt bùi'. Đó là những câu thơ mở đầu trong bài 'Anh Xô - Người tù binh cộng sản Việt Nam' của ông Nguyễn Trọng Khiêm.
Ông Khiêm đã viết bài thơ này giữa chốn ngục tù tối tăm khi nghe tin Nguyễn Đình Xô hy sinh vì đòn tra tấn của kẻ thù. Và chính bài thơ ấy cũng là cánh cửa đưa chúng tôi lần theo từng mảnh ký ức, để tìm hiểu về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Đình Xô, người anh hùng đã hy sinh tại Nhà tù Phú Quốc, nhưng tên tuổi vẫn sáng rực như một ngọn lửa không bao giờ tắt trong lòng đồng đội.
Theo lời kể của ông Nguyễn Trọng Khiêm, Nguyễn Đình Xô, sinh ngày 4-7-1946 tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Tân Chi, tỉnh Bắc Ninh). Ông lớn lên trong một gia đình nông dân cần cù, giàu truyền thống cách mạng. Ngay từ thuở nhỏ, Nguyễn Đình Xô đã được bà con trong vùng quý mến vì sự chăm chỉ, hiền lành và bản tính luôn sẵn sàng đứng ra giúp người khác bất kể việc lớn, nhỏ. Tuổi trẻ của ông gắn liền với những mùa hoạt động sôi nổi của phong trào thanh niên địa phương. Khi mới bước sang tuổi mười tám, Nguyễn Đình Xô đã là Bí thư chi đoàn, trở thành điểm tựa tinh thần cho nhiều bạn trẻ cùng thời.
Năm 1965, khi vừa tròn 19 tuổi, trước yêu cầu của Tổ quốc, Nguyễn Đình Xô viết đơn bằng máu tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. Giây phút lên đường, ông chỉ kịp nắm tay người yêu, nói lời hẹn ước: “Ngày chiến thắng, anh sẽ về”.

Di ảnh Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Đình Xô.
Trong cuốn sách “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tập 14” của Tổng cục Chính trị có chi tiết: Sau ba tháng huấn luyện, ngày 13-9-1965, Nguyễn Đình Xô cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường Tây Nguyên. Ông chính thức được biên chế vào Đại đội 6, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 88, Sư đoàn 302, Quân khu 7. Vừa đặt chân đến chiến trường, người lính trẻ phải đối diện với thời tiết khắc nghiệt, bệnh sốt rét rừng và những trận đánh liên miên. Những khó khăn ấy tôi luyện ý chí của người chiến sĩ và trong câu chuyện của các đồng đội, Nguyễn Đình Xô luôn được nhắc đến là một trong những người quyết đoán, can trường.
Ngày 18-7-1966, trong trận chiến ác liệt tại Gia Lai, Nguyễn Đình Xô bị thương nặng khi chiến đấu giữa vòng vây của địch. Lúc tỉnh dậy, ông đã bị kẻ thù bắt rồi đưa đến nhiều nhà lao khác nhau… Ở bất cứ nơi nào, dù phải đối diện với sức ép tinh vi hay những thủ đoạn khai thác thông tin đầy tàn nhẫn, ông vẫn giữ trọn bản lĩnh của một người chiến sĩ cách mạng. Từ Pleiku đến Biên Hòa và cuối năm 1967, ông bị chuyển ra Nhà tù Phú Quốc.
Theo trí nhớ của ông Nguyễn Trọng Khiêm, trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt, Nguyễn Đình Xô nhanh chóng trở thành điểm tựa tinh thần cho những đồng chí bị giam giữ cùng. Sự bình tĩnh, nghị lực và tinh thần đoàn kết của ông khiến nhiều chiến sĩ trẻ thêm vững tin. Tại đây, ông được bí mật bầu làm Bí thư chi đoàn, giao trọng trách tập hợp lực lượng, giữ gìn kỷ luật nội bộ và tổ chức đấu tranh đòi nhà cầm quyền tôn trọng Công ước Geneva về đối xử với tù binh.
Ngày 7-3-1969, sau một cáo buộc vô cớ, cai ngục gọi Nguyễn Đình Xô và hai chiến sĩ khác ra khu điều hành trại A3. Tại đây, họ bị thẩm vấn và ép phải khai báo về tổ chức bí mật trong nhà tù. Khi không đạt được mục đích, địch liên tục dùng các biện pháp bạo lực nhằm khuất phục tinh thần của ba người. Dù bị đánh đập dã man, Nguyễn Đình Xô vẫn giữ vững lập trường, không hé lộ bất kỳ điều gì liên quan đến đồng đội hay hoạt động đấu tranh chính trị trong trại.
Sự việc diễn ra không lọt khỏi tai mắt anh em trong khu A3. Nghe tiếng ồn và thấy nước tràn ra từ phòng điều hành, họ hiểu rằng những người đồng chí của mình đang phải chịu những cực hình tàn nhẫn. Chỉ trong chốc lát, hàng trăm tù nhân ùa ra sân, hô khẩu hiệu phản đối, buộc cai ngục phải chấm dứt hành động bạo lực và đưa ba chiến sĩ trở lại trại giam.
Khi được khiêng về, cả ba người đều trong tình trạng kiệt sức, cơ thể đầy thương tích. Nhưng ánh mắt của Nguyễn Đình Xô vẫn kiên nghị, không một lời than vãn. Địch buộc phải dừng lại vì không lấy được từ anh bất kỳ lời khai nào.
Một tháng sau, khi phái đoàn Hồng thập tự quốc tế ra đảo Phú Quốc kiểm tra, nhà cầm quyền tìm mọi cách che giấu sự thật. Họ ép tù binh phải nói dối rằng điều kiện giam giữ được thực hiện đúng quy định, không có bạo hành, tra tấn. Nhưng trong khoảnh khắc quan trọng nhất, Nguyễn Đình Xô cùng một số đồng chí đã đứng bật dậy, thẳng thắn tố cáo hành động tra tấn dã man của bọn cai ngục. Hành động đó khiến đại diện phái đoàn sửng sốt hứa sẽ điều tra và phản hồi, còn kẻ địch thì giận dữ.
Từ thời điểm đó, tên của Nguyễn Đình Xô bị đánh dấu trong danh sách “theo dõi đặc biệt”. Bất kỳ hành động nào của ông cũng bị soi xét, và sự kiên cường của ông càng khiến kẻ địch tìm mọi cách dập tắt ảnh hưởng. Nhưng ngọn lửa mà anh thắp lên trong lòng đồng đội thì không thể dập tắt dễ dàng. Từ khu A3 đến phân khu B5, nơi nào có anh, nơi ấy có thêm hy vọng.

Ông Nguyễn Trọng Khiêm kể câu chuyện xúc động về người bạn tù Phú Quốc.
Ông Nguyễn Trọng Khiêm xúc động nhớ lại, thời gian trôi đi không một phút bình yên, cả đảo tù ngày đêm quằn quại, đói rách, đòn roi, súng đạn của quân thù, vết thương tra tấn chưa lành thì ngày 12-4-1969, khoảng 9 giờ sáng, ngoài cổng trại giam, một chiếc xe jeep chở 5-6 tên quân cảnh, áo giáp, dùi cui đeo đầy người, lưỡi lê tuốt trần, giữa lòng xe là một khẩu đại liên sẵn sàng nhả đạn chờ sẵn để áp tải tù nhân di chuyển ngoài trại giam. Mọi người nhốn nháo chờ đón tin chẳng lành. Danh sách 12 tù nhân đủ họ tên, số tù, số phòng, quê quán được phòng Nhì đòi phải có mặt sau vài phút. Nguyễn Đình Xô có tên trong danh sách. Trước khi đi, anh nhắn với bạn tù: “Tôi đi lần này là đi hẳn. Cũng không hy vọng về trại nào khác đâu. Về phần tổ chức, tôi đã trao đổi với đồng chí Hùng, đồng chí ấy hiện là Phó bí thư Chi đoàn, từ nay sẽ là Bí thư thay tôi. Anh em biết vậy để có sự liên hệ trao đổi. Tôi đã trao lại cho anh ấy cái áo tù có chữ TP ở sau lưng gọi là lành lặn hơn để mặc giữ gìn sức khỏe còn tiếp tục đấu tranh. Cái áo cũng tạm cho là kỷ vật cuối cùng của tôi. Anh em nhắn giùm quê hương và gia đình rằng Nguyễn Đình Xô này quyết giữ trọn lời hứa trước lúc lên đường chiến đấu. Nhắn giúp với bạn gái tôi, thôi đành lỗi hẹn, mong cô ấy hạnh phúc”.
Quân giặc đánh đập Nguyễn Đình Xô vô cùng tàn nhẫn. Chúng dùng còng khóa chân tay ông vào chân ghế, lấy những chiếc đinh đóng vào đầu ngón tay. Cứ mỗi lần đóng đinh vào một ngón tay, chúng lại hỏi: “Có phải mày là lãnh đạo trong tù không?”. Nguyễn Đình Xô cắn răng chịu đựng và chỉ trả lời một từ “không”. Sau đó, chúng bỏ ông vào chiếc bao buộc túm lại, múc từng gáo nước sôi giội lên cơ thể anh. Mỗi gáo nước giội chúng lại hỏi, tra khảo, ông vẫn một mực không khai, không kêu ca. Khi chúng giội đến xoong nước thứ ba lên đầu anh thì Nguyễn Đình Xô trút hơi thở cuối cùng.
Vài ngày sau, tin dữ truyền khắp các dãy trại. Nguyễn Đình Xô đã hy sinh. Những câu chuyện về ông lan truyền khắp đảo, ông Nguyễn Trọng Khiêm khi nghe tin đã lặng đi rất lâu. Ông vừa là bạn tù, vừa là đồng hương với Nguyễn Đình Xô. Dù khắp mình còn đau nhức vì trận đòn roi, ông Khiêm vẫn cố gắng tựa lưng vào vách tôn lấy mẩu chì đập ra từ quả pin hỏng, viết từng chữ lên đáy chiếc cà mèn xoa trắng kem đánh răng. Viết đến đoạn nào ông Khiêm nhẩm lại để thuộc ngay đoạn ấy, rồi lại xóa đi viết tiếp: “Trước khi tắt thở còn hô:/ “Anh em ở lại, tôi đi!” lịm dần/ Làm cho một lũ bất nhân/ Phải đành khuất phục tinh thần kiên trung/ Thương anh: biển động, sóng gầm/ Tin, yêu Đảng đã ghi công anh rồi!”… Bài thơ sau đó được Đảng ủy khu giam D5 duyệt và xuất bản bí mật trong tập thơ “Lửa lòng”. Tập thơ được chuyền tay từ phòng giam này đến phòng giam khác kịp thời động viên, khích lệ tinh thần đấu tranh cho các chiến sĩ cách mạng giữa chốn ngục tù.
Ngày 26-4-2018, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 622/QĐ-CTN truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Nguyễn Đình Xô vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nguyễn Đình Xô đã sống một cuộc đời trọn vẹn, đã hy sinh với tất cả niềm tin dành cho lý tưởng cách mạng. Đúng như câu thơ của người bạn tù Nguyễn Trọng Khiêm dành tặng: “…Anh nằm đất đảo đưa nôi/ Câu ca quan họ ngọt bùi ru anh/ Linh hồn hai bốn tuổi xanh/ Xin chào vĩnh biệt người anh trọn đời”.











