Áp dụng AI trong hệ thống canh tác: cần theo các nguyên tắc và đạo đức bao quát nào?

Công nghệ AI trong nông nghiệp là sự tích hợp các ứng dụng kỹ thuật cao và biện pháp quản lý canh tác thông minh, tự động hóa, giảm lao động tay chân và tối ưu trong quyết định chọn lựa về kinh tế nông nghiệp. Nhưng việc lạm dụng tối ưu dựa trên số đông hay thị trường toàn cầu có thể dẫn đến những thách thức về đạo đức khi ứng dụng AI trong nông nghiệp.

Công nghệ trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) dù đã được các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ những năm 1950 (70 năm trước đây). AI được xem như là những máy học (learning machines), Internet vạn vật (Internet of Things - IoT) và robot, dựa vào các thông tin thu thập được và tiệm cận với suy nhĩ theo định hình hành vi theo số đông của con người hoặc một chính sách nào đó tạo nên các hệ thống hỗ trợ ra quyết định (Decision Support System - DSS).

Sử dụng máy bay không người lái bón phân cho lúa ở giai đoạn bón lót. Ảnh: H.P

Sử dụng máy bay không người lái bón phân cho lúa ở giai đoạn bón lót. Ảnh: H.P

AI đang dần dần hoàn thiện và lớn mạnh đến mức độ bùng nổ gây chú ý và kinh ngạc trên thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt trên hầu hết những quốc gia phát triển và đang phát triển, nhiều ngành nghề truyền thống trong xã hội bị AI cạnh tranh mãnh liệt, phải thu hẹp dần, thậm chí bị đe dọa xóa bỏ, khai tử vĩnh viễn.

Công nghệ AI thiên kiến thuật toán lựa chọn tối ưu hoặc cận tối ưu là chính, nó giải quyết khá tốt việc quản lý và bảo mật “đám mây” dữ liệu nhưng cũng tiêu thụ một khối lượng năng lượng dưới dạng điện năng khổng lồ. Khó có thể phủ nhận những thành tựu ứng dụng của AI trong đời sống con người, kể cả trong hoạch định chiến lược quốc gia.

Những thách thức liên quan đến đạo đức con người

Sự lớn mạnh của công nghệ AI cũng đặt ra những thách thức liên quan đến đạo đức con người, hoặc làm tổn thương các đối tượng yếu thế, nếu không điều chỉnh có thể vi phạm các chuẩn mực chung, gây tiêu cực đến từng cá nhân hay cộng đồng, xã hội. Khi áp dụng AI, nhiều đối tượng trong xã hội có thể bị bỏ qua như những người dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu vùng xa, hải đảo, người ít học, người nghèo, người sản xuất nhỏ lẻ, người khuyết tật, người khó tiếp cận với công nghệ thông tin…

Công nghệ AI thường nhắm đến số đông, nơi có nhiều người sinh sống như mảng quản lý xã hội, xây dựng - phát triển đô thị, học đường, thương mại lớn, công nghiệp hay kỹ nghệ chuyên sâu, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn… Nhóm hoạt động sản xuất lớn này có thể đem lại những món lợi tài chính và độc quyền cho những ai làm chủ công nghệ AI hơn là nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương. Điều này trái với nguyên lý “Không ai bị bỏ lại phía sau” (No one is left behind) và “Không gây hại” (Do no harm).

Các nhà khoa học và người ra chính sách phải thống nhất xây dựng một khung pháp lý cho việc áp dụng đạo đức AI trong nông nghiệp, bao gồm các lưu ý việc tiếp cận lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính đa dạng, công bằng và bao trùm. AI phải phục vụ cho tất cả nông dân khác nhau một cách công bằng trong việc tiếp cận thị trường và phân bổ nguồn lực, tránh tình trạng AI chỉ ưu tiên phục vụ các nông trại lớn, có tiềm lực tài chính mạnh.

Phần đông người Việt Nam và nhiều quốc gia khác ở châu Á, châu Phi, Nam Mỹ… có tỷ lệ dân số sống ở nông thôn và sinh kế phụ thuộc cao vào nông nghiệp. Đạo đức AI trong nông nghiệp đề cập đến các nguyên tắc và hướng dẫn đạo đức chi phối việc phát triển và triển khai các công nghệ trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, với trọng tâm cụ thể là đảm bảo các hoạt động bền vững lâu dài, duy trì hệ sinh thái tự nhiên cũng như bảo vệ môi trường sống chung.

“Nông nghiệp” hay nghề nông, tiếng Anh là “agriculture”. Khởi phát đây là từ Latinh với “agricultura”, kết hợp giữa chữ “ager” (agri là sở hữu cách của ager, có nghĩa là cánh đồng) và “cultura”có nghĩa về canh tác, nuôi dưỡng và cả nghĩa về văn hóa. Agriculture là canh tác trên các cánh đồng. Công nghệ AI trong nông nghiệp là sự tích hợp các ứng dụng kỹ thuật cao và biện pháp quản lý canh tác thông minh, tự động hóa, giảm lao động tay chân và tối ưu trong quyết định chọn lựa về kinh tế nông nghiệp.

Tuy nhiên, việc lạm dụng tối ưu dựa trên số đông hay thị trường toàn cầu có thể dẫn đến những thách thức về đạo đức khi ứng dụng AI trong nông nghiệp.

Thứ nhất, nguồn dữ liệu thu thập và sở hữu rất lớn trong công nghệ AI sẽ đặt ra vấn đề người quản trị kỹ thuật số hợp pháp các số liệu về đất đai, diện tích, cây trồng, nguồn nước, năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế nông nghiệp sẽ có thể tác động đến quyền riêng tư của các chủ đất khác nhau, các nông dân nhỏ lẻ không được tiếp cận số liệu; quyết định canh tác sẽ tập trung vào các điền chủ lớn và mạnh về tài chính, làm gia tăng khả năng cạnh tranh, chèn ép các nông dân nghèo, ít học hoặc canh tác nhỏ lẻ, các nhóm dân tộc thiểu số khiến họ thua thiệt, phải bán đất cho nhà đầu tư lớn hơn và chấp nhận làm thuê, thậm chí bị bóc lột sức lao động.

Thứ hai, nhằm để tối đa hóa lợi nhuận trong một vụ mùa hay một năm canh tác nào đó, các quyết định thiên kiến và thiếu công bằng của thuật toán từ AI có thể dẫn đến lạm dụng trong ngắn hạn các thông tin nguồn đất, nước, sinh vật, thời tiết để quyết định thời vụ mùa màng… Điều này có thể làm mất tính bền vững của môi trường, gây suy kiệt tài nguyên trong lâu dài vài chục năm sau mà có thể AI chưa đủ hoặc thiếu cơ sở xem xét.

Thứ ba, áp dụng công nghệ AI, đặc biệt với sự phát triển tự động hóa, robot… có thể làm mất việc làm của nông dân và người lao động liên quan đến nông nghiệp. Việc chọn lựa theo hướng phần lớn là tối ưu sẽ thuận lợi cho các chủ đất lớn khiến nông dân nhỏ lẻ chịu sự bất bình đẳng và làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong nông thôn.

Thứ tư, khi có sự cố gây nguy hại do các quyết định canh tác dựa vào dữ liệu có từ nhiều năm trước, AI bị hạn chế ở các yếu tố không chắc chắn (uncertainties factors) như dịch bệnh, thiên tai dị thường hay biến đổi khí hậu, thậm chí các thay đổi chính sách do xung đột thương mại, chiến tranh… Khi đó, khó có thể đòi hỏi AI phải minh bạch, có trách nhiệm giải trình và bồi thường thiệt hai.

Khung pháp lý cho việc áp dụng đạo đức AI trong nông nghiệp

Đạo đức AI yêu cầu các cá nhân, tổ chức nghiên cứu cần hướng đến sự bền vững, minh bạch, bình đẳng xã hội, hỗ trợ các thực tiễn lao động công bằng và trao quyền cho cộng đồng địa phương, cũng như xem xét các tác động lâu dài của AI đối với sự đa dạng sinh học, sức khỏe đất và khả năng chống chịu với tình trạng biến đổi khí hậu, đồng thời ủng hộ các giải pháp góp phần tạo ra một hệ thống nông nghiệp sạch và khả năng tái tạo, tuần hoàn tốt hơn. Hơn nữa, mô hình khí hậu dựa trên AI giúp nông dân thích ứng với các hình thái thời tiết thay đổi, tăng cường khả năng phục hồi, bảo đảm an ninh lương thực và an toàn dinh dưỡng.

Do vậy, con người bao gồm các nhà khoa học và người ra chính sách phải thống nhất xây dựng một Khung pháp lý cho việc áp dụng đạo đức AI trong nông nghiệp, bao gồm các lưu ý việc tiếp cận lấy con người làm trung tâm, bảo đảm tính đa dạng, công bằng và bao trùm (Diversity, Equity, Inclusion - DEI), công nghệ AI là một công cụ hỗ trợ chứ hoàn toàn không thay thế việc ra quyết định của con người, AI phải phục vụ cho tất cả nông dân khác nhau một cách công bằng trong việc tiếp cận thị trường và phân bổ nguồn lực, tránh tình trạng AI chỉ ưu tiên phục vụ các nông trại lớn, có tiềm lực tài chính mạnh.

Bên cạnh đó, AI cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác các bên liên quan giữa các nhà khoa học nông nghiệp, phát triển nông thôn, cộng đồng nông dân và các nhà hoạch định chính sách để tạo ra các công nghệ nông nghiệp toàn diện.

TS. Lê Anh Tuấn

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/ap-dung-ai-trong-he-thong-canh-tac-can-theo-cac-nguyen-tac-va-dao-duc-bao-quat-nao/