Ba chuyển động đối ngoại của Việt Nam từ chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 cùng hàng loạt hoạt động song phương đã vượt ra ngoài khuôn khổ của chuyến đi dự một hội nghị quốc tế thông thường.

Chuyến đi cho thấy ba chuyển động đáng chú ý trong đối ngoại Việt Nam: Từ tham gia sang đóng góp và từng bước tham gia định hình chương trình nghị sự đa phương; Từ nâng cấp khuôn khổ sang tạo nội hàm thực chất cho Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ; Từ ngoại giao tạo môi trường thuận lợi sang ngoại giao trực tiếp huy động nguồn lực cho phát triển. Ba chuyển động này có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng hướng tới một mục tiêu lớn hơn nhằm mở rộng không gian chiến lược để gia tăng không gian phát triển của Việt Nam.

Tìm kiếm một vị thế cao hơn trong ngoại giao đa phương

Điểm đáng chú ý đầu tiên nằm ở thông điệp mà Việt Nam đưa ra tại Liên hợp quốc. Trong bài phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu khôi phục lòng tin, đề cao Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, chủ nghĩa đa phương và khả năng hợp tác của cộng đồng quốc tế trước những thách thức chung. Nhìn bề ngoài, đây là những nguyên tắc nhất quán mà Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, nhưng nếu đặt trong tiến trình phát triển của đối ngoại Việt Nam từ Đổi mới đến nay cho thấy một sự thay đổi quan trọng về vị thế.

Trong giai đoạn đầu của hội nhập, vấn đề chính là làm thế nào để Việt Nam tham gia trở lại cộng đồng quốc tế, và sau đó là làm thế nào để hội nhập sâu hơn vào các thể chế khu vực và toàn cầu. Hiện nay, khi mạng lưới quan hệ đối ngoại đã được mở rộng đáng kể, một câu hỏi mới đặt ra là Việt Nam có thể đóng góp gì vào việc giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu? Đây là sự khác biệt giữa một quốc gia chủ yếu thụ hưởng trật tự quốc tế với một quốc gia muốn trở thành một chủ thể có trách nhiệm và có tiếng nói trong trật tự đó.

Việt Nam không đặt mục tiêu trở thành nước quyết định luật chơi quốc tế, giữa hai trạng thái "chấp nhận luật chơi" và "quyết định luật chơi" còn một không gian rất rộng là tham gia xây dựng luật chơi, đóng góp sáng kiến và tạo đồng thuận trong những vấn đề mà Việt Nam có lợi ích và năng lực đóng góp. Đây chính là không gian mà ngoại giao Việt Nam đang có điều kiện mở rộng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp ông Tim Cook, Chủ tịch điều hành Tập đoàn Apple

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp ông Tim Cook, Chủ tịch điều hành Tập đoàn Apple

Kinh nghiệm tại Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền, hoạt động gìn giữ hòa bình, các cơ chế ASEAN cũng như những đóng góp về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, an ninh biển và luật pháp quốc tế tạo nền tảng cho vai trò này của Việt Nam. Vì thế, thông điệp tại New York không chỉ là sự khẳng định Việt Nam ủng hộ Liên hợp quốc mà có ý nghĩa sâu hơn là Việt Nam muốn chuyển vốn chính trị tích lũy từ quá trình hội nhập thành khả năng đóng góp vào quản trị toàn cầu. Đây là bước phát triển tự nhiên của ngoại giao một quốc gia có quy mô dân số hơn 100 triệu người với nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu và lợi ích ngày càng gắn với sự ổn định của hệ thống quốc tế.

Nâng cấp chất lượng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

Sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023, vấn đề không còn là nâng cấp quan hệ mà làm thế nào tạo ra những kết quả tương xứng với khuôn khổ quan hệ đã được nâng cấp.

Cuộc gặp Đại diện Thương mại Hoa Kỳ tập trung vào những vấn đề thương mại cụ thể. Các cuộc tiếp xúc với nghị sĩ Quốc hội Mỹ mở rộng nền tảng chính trị cho quan hệ. Cuộc gặp lãnh đạo Hải quân Hoa Kỳ đề cập hợp tác quốc phòng và khắc phục hậu quả chiến tranh. Các hoạt động với Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA) và doanh nghiệp hướng tới đầu tư, cơ sở hạ tầng và công nghệ. Các cuộc gặp giới học thuật, chuyên gia và người Việt Nam tại Hoa Kỳ mở rộng quan hệ sang giáo dục, tri thức và đổi mới sáng tạo. Chuỗi các hoạt động song phương này cho thấy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang được mở rộng từ quan hệ giữa hai Chính phủ thành một mạng lưới quan hệ đa tầng giữa Chính phủ - Quốc hội - doanh nghiệp - trường đại học - giới khoa học - cộng đồng người Việt. Đây là yếu tố quan trọng đối với độ bền vững của mối quan hệ song phương.

Một quan hệ chỉ phụ thuộc vào tương tác giữa hai Chính phủ có thể chịu tác động lớn khi chính quyền thay đổi, nhưng khi lợi ích được phân bổ cho nhiều chủ thể khác nhau như doanh nghiệp, địa phương, trường đại học, giới khoa học, cộng đồng... quan hệ sẽ ít biến đổi và trở nên bền vững hơn. Quan trọng là quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đang bước vào giai đoạn mà khác biệt lợi ích phải được quản trị song song với mở rộng hợp tác. Quy mô trao đổi thương mại lớn mang lại lợi ích đáng kể cho cả hai bên nhưng đồng thời làm nổi lên vấn đề thặng dư thương mại, xuất xứ hàng hóa, tiếp cận thị trường và chính sách thuế quan.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao văn kiện, thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam với các cơ quan của Liên hợp quốc

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao văn kiện, thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam với các cơ quan của Liên hợp quốc

Một quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện không có nghĩa là không tồn tại khác biệt. Ngược lại, khả năng quản trị khác biệt mà không để chúng phá vỡ cấu trúc hợp tác tổng thể mới là một thước đo quan trọng hơn. Bởi vậy, ý nghĩa của các cuộc trao đổi thương mại tại New York không chỉ nằm ở một mức thuế hay một thỏa thuận cụ thể là hai bên đang tìm kiếm một cơ chế cân bằng lợi ích có khả năng duy trì quan hệ kinh tế lâu dài.

Nếu sự chuyển đổi này thành công, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có thể chuyển từ một mô hình chủ yếu dựa trên "Việt Nam sản xuất - Hoa Kỳ tiêu thụ” sang một cấu trúc sâu hơn là Hoa Kỳ cung cấp vốn, công nghệ, tri thức và thị trường, còn Việt Nam cung cấp năng lực sản xuất, nguồn nhân lực, vị trí chuỗi cung ứng và khả năng kết nối ASEAN.

Ngoại giao từ "phục vụ phát triển" đến "tạo năng lực phát triển"

Trong nhiều thập niên, nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại Việt Nam là tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình và thuận lợi cho phát triển. Nhiệm vụ ấy vẫn còn nguyên giá trị, nhưng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới cao hơn vì Việt Nam không chỉ cần môi trường thuận lợi để phát triển, mà còn cần ngoại giao trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra năng lực phát triển mới.

Ngoại giao phục vụ phát triển chủ yếu tìm kiếm thị trường, đầu tư, viện trợ và môi trường quốc tế thuận lợi. Trong khi đó, ngoại giao tạo năng lực phát triển phải giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ lõi, nhân lực chất lượng cao, mạng lưới đổi mới sáng tạo, vốn tri thức và những vị trí có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì thế, làm việc với doanh nghiệp công nghệ, USTDA, Pfizer, các cơ sở giáo dục, chuyên gia và trí thức người Việt Nam không chỉ nhằm thu hút thêm đầu tư.

Nếu một dự án chỉ tạo thêm nhà máy và việc làm, đó là thành công của thu hút đầu tư, nhưng nếu dự án đồng thời chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ sư, hình thành nhà cung cấp Việt Nam, kết nối đại học - doanh nghiệp, tạo năng lực R&D và đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi giá trị toàn cầu, thì đó là tạo năng lực phát triển.

Sự khác biệt này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới và kinh tế số. Với Hoa Kỳ, Việt Nam có cơ hội không chỉ thu hút vốn mà còn tiếp cận một trong những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lớn nhất thế giới. Trong cấu trúc đó, cộng đồng chuyên gia và trí thức Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng cần được nhìn nhận theo một cách khác. Kiều hối vẫn quan trọng, nhưng đối với một nền kinh tế muốn chuyển sang tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ thì nguồn lực có giá trị ngày càng lớn là "kiều tri", tri thức, công nghệ, mạng lưới và khả năng kết nối Việt Nam với những trung tâm sáng tạo toàn cầu.

Do đó, thước đo thành công của ngoại giao kinh tế trong giai đoạn tới không nên chỉ là bao nhiêu tỷ USD đầu tư được cam kết, mà còn phải là bao nhiêu công nghệ được làm chủ, bao nhiêu kỹ sư được đào tạo, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chuỗi cung ứng và bao nhiêu năng lực mới được hình thành trong nền kinh tế Việt Nam. Đây có thể là sự chuyển đổi quan trọng nhất trong tư duy ngoại giao phục vụ phát triển.

Tóm lại, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Hoa Kỳ - Trung Quốc và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam không nhất thiết phải lựa chọn giữa mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ và duy trì quan hệ với những đối tác quan trọng khác. Logic của đa phương hóa, đa dạng hóa chính là mở rộng tối đa tập hợp các quan hệ có lợi trong khi duy trì khả năng tự chủ trong quyết định chiến lược. Vì thế, điều đáng chú ý từ chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không đơn thuần là Việt Nam đang xích lại gần một đối tác nào mà chính xác hơn là Việt Nam đang mở rộng số lượng lựa chọn chiến lược của mình.

Một quốc gia càng có nhiều lựa chọn thì càng có điều kiện duy trì tự chủ chiến lược. Theo nghĩa đó, ba chuyển động từ tham gia sang đóng góp, từ nâng cấp quan hệ sang nâng cấp chất lượng quan hệ, và từ ngoại giao phục vụ phát triển sang ngoại giao tạo năng lực phát triển, cuối cùng cùng hội tụ vào một mục tiêu nhằm mở rộng không gian chiến lược để gia tăng không gian phát triển, và sử dụng không gian phát triển ấy để củng cố năng lực tự chủ chiến lược của Việt Nam.

PGS.TS BÙI HẢI ĐĂNG (Giảng viên cao cấp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM)

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/ba-chuyen-dong-doi-ngoai-cua-viet-nam-tu-chuyen-cong-tac-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam_198077.html