Bắc Ninh: Nâng giá trị nông sản từ liên kết sản xuất, tiêu thụ
Phát huy lợi thế sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã trong tỉnh đã chủ động xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ nông sản. Thông qua mở rộng vùng nguyên liệu, áp dụng tiêu chuẩn chất lượng và đẩy mạnh chế biến sâu, nông sản Bắc Ninh từng bước nâng cao giá trị, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu
Hợp tác xã Nông nghiệp sản xuất và kinh doanh dịch vụ tổng hợp Hồng Xuân, tổ dân phố Kép 1, phường Chũ chuyên sản xuất, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Hợp tác xã tiên phong áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp theo hướng tạo ra sản phẩm an toàn, trong đó vải thiều được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để xuất khẩu và cung ứng cho các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch.

Sản phẩm vải thiều đông lạnh được bày bán tại Siêu thị Lopia, tỉnh Saitama (Nhật Bản).
Ông Phạm Văn Dũng, Giám đốc Hợp tác xã chia sẻ: Từ khi thành lập đến nay, Hợp tác xã luôn chú trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đơn vị áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt trên các loại cây vải thiều, cam, bưởi... nhằm tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước, được người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn. Trong đó sản phẩm vải thiều Lục Ngạn của Hợp tác xã đạt chất lượng OCOP 5 sao; cam, bưởi đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao. Hợp tác xã còn xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, châu Âu...
Năm 2008, trong một lần thăm bãi Nguyệt Bàn, xã Cao Đức, ông Nguyễn Văn Linh nhận thấy khu đất này thuận lợi cho trồng các loại rau màu nhưng lại chưa được khai thác. Theo ông Linh, mặc dù là đất không sử dụng sau khi đã khai thác để sản xuất gạch thủ công nhưng chất đất ở đây rất tốt, được bồi đắp phù sa nên rất thích hợp trồng những cây ngắn ngày.
Toàn tỉnh hiện có hơn 54 nghìn ha cây ăn quả, chủ lực là vải thiều, nhãn, bưởi, cam, na, táo…, tổng giá trị sản xuất 7.400 tỷ đồng/năm. Ngoài ra, mỗi năm các địa phương trong tỉnh trồng hơn 30 nghìn ha cây rau màu như ngô, khoai tây, khoai lang, rau xanh, rau phục vụ chế biến, sản lượng gần 630 nghìn tấn, doanh thu 3.600 tỷ đồng/năm.
Nhận thấy được điều đó, ông Linh thuê lại khoảng 40 ha đất để cải tạo trồng cà rốt. Để biến nơi đây thành vùng sản xuất hàng hóa như hôm nay, ông Linh mất khoảng một năm thuê máy móc, nhân công tiến hành cải tạo đất, xây dựng trang trại. Đầu năm 2009, ông bắt tay trồng vụ cà rốt đầu tiên. “Cây cà rốt rất thích hợp trồng trên đất phù sa, bãi bồi cao. Cùng với các yếu tố về giống, khâu xử lý đất trước khi gieo trồng và xử lý mầm bệnh là rất quan trọng. Do đó, trong quá trình sản xuất, tôi chỉ sử dụng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học giúp cây trồng đạt năng suất cao (trung bình 2,5 - 3 tấn/sào/vụ).” - ông Linh cho biết thêm.
Nhờ tuân thủ quy trình 3 không (không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, không sử dụng phân bón không rõ nguồn, không dùng thuốc bảo quản trong sơ chế và bảo quản sản phẩm) nên sản phẩm của gia đình ông có đầu ra ổn định, đặc biệt là củ cải đường và cà rốt. Ngoài cung cấp cho thị trường nội địa, ông xuất khẩu sang Nhật Bản và Hàn Quốc mỗi năm từ 1.500-2.000 tấn nông sản các loại, lợi nhuận gần 1 tỷ đồng/năm.
Năm 2005, trong chuyến thăm lại chiến trường xưa, ông Trần Sỹ Quảng ở tổ dân phố Khả Lý Hạ, phường Vân Hà tình cờ phát hiện cây gấc sống xanh tốt ở môi trường khắc nghiệt. Sau khi biết được những thông tin về giá trị của cây gấc, ông Quảng bắt tay vào trồng. Nhớ lại những ngày đầu thực hiện, gia đình gặp không ít khó khăn do chưa có kinh nghiệm sản xuất. Để vượt qua, ông Quảng tìm đến những vùng trồng gấc để học hỏi kinh nghiệm, tự tìm hiểu qua sách, báo, đúc rút từ thực tiễn và đã tìm ra quy trình trồng, chăm sóc gấc của riêng mình. Từ vài trăm mét vuông ban đầu, đến nay ông Quảng đã có 10 ha trồng gấc và liên kết với hàng trăm hộ trồng khoảng 100 ha nguyên liệu chế biến. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ông đầu tư kho lạnh, xây dựng xưởng chế biến tinh dầu gấc, bột gấc, màng gấc sấy lạnh theo công nghệ Nhật Bản. Hiện cơ sở sản xuất của gia đình ông đã có 4 sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3 sao và được xuất khẩu đi nhiều nước với giá trị hàng chục tỷ đồng mỗi năm.
Đa dạng sản phẩm
Tỉnh Bắc Ninh hiện có hơn 54 nghìn ha cây ăn quả, chủ lực là vải thiều, nhãn, bưởi, cam, na, táo…, tổng giá trị 7.400 tỷ đồng/năm. Ngoài ra, mỗi năm các địa phương trong tỉnh trồng hơn 30 nghìn ha cây rau màu như ngô, khoai tây, khoai lang, rau xanh, rau phục vụ chế biến, sản lượng gần 630 nghìn tấn, giá trị 3.600 tỷ đồng/năm. Toàn tỉnh duy trì 310 mã số vùng trồng với tổng diện tích xấp xỉ 5 nghìn ha, đồng thời phát triển vùng nguyên liệu chất lượng cao phục vụ các nhà máy chế biến. Theo ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, để gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu, những năm gần đây, cùng với hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ nhằm ổn định đầu ra và chuyên nghiệp hóa sản phẩm, ngành Nông nghiệp tập trung chỉ đạo đầu tư vào sản xuất thông minh, ứng dụng công nghệ mới, sản xuất hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Mùa bội thu. Ảnh: Diêm Công Hải.
Thời gian qua, Sở Công Thương cùng với các địa phương tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, xúc tiến thương mại, phát triển thương mại điện tử, tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu. Năm 2025, sản phẩm nông nghiệp của tỉnh đã được quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sang thị trường 16 quốc gia, vùng lãnh thổ, chủ lực là: Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, một số quốc gia châu Âu...
Năm 2025, tỉnh đã xuất khẩu hơn 80 nghìn tấn vải thiều, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản xuất. Doanh thu từ vụ vải vừa qua ước tính khoảng hơn 6 nghìn tỷ đồng. Ngoài vải thiều, nhiều nông sản như nhãn, cam, bưởi, cà chua, củ cải, ớt, gừng, nghệ, quế, hồi, sả... cũng được xuất khẩu.
Không chỉ nâng cao giá trị thu nhập cho nông dân, các doanh nghiệp chế biến, việc thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu các loại nông sản còn mở ra triển vọng về một nền nông nghiệp phát triển bền vững, đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu chung của toàn tỉnh.












