Bắc Ninh: Xây dựng chuỗi liên kết, mở đường cho xuất khẩu thủy sản
Những năm gần đây, cùng với việc hỗ trợ, khuyến khích người dân áp dụng công nghệ nuôi mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh tập trung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm thủy sản đáp ứng tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu. Qua đó góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, khai thác hiệu quả tiềm năng và nâng cao giá trị.
Đổi mới tư duy, chuẩn hóa vùng nuôi
Những năm trước đây, gia đình bà Cao Thị Kiểu ở xã Lâm Thao thường xuyên nuôi các loại cá truyền thống: Trắm, trôi, chép, mè để tận dụng tối đa nguồn thức ăn. Từ năm 2023, được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, gia đình bà Kiểu liên kết với Hợp tác xã Sản xuất và Thương mại thủy sản Xuyên Việt (thành phố Hải Phòng) triển khai nuôi cá rô phi chế biến xuất khẩu.
Với diện tích ao nuôi rộng gần 1 ha, gia đình bà thực hiện nuôi chuyên canh giống cá rô phi đơn tính theo tiêu chuẩn GlobalGAP. Trao đổi với chúng tôi, bà Kiểu cho biết: “Từ khi nuôi theo tiêu chuẩn xuất khẩu, gia đình phải tính xem con cá ăn gì, chất lượng nước ra sao, sản phẩm có đạt chỉ tiêu hay không, đồng thời phải ghi chép nhật ký chăm sóc để phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm”.

Cán bộ Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh kiểm tra ao nuôi cá phục vụ xuất khẩu của gia đình ông Nguyễn Văn Chính ở xã Nhã Nam.
Theo hướng dẫn kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, trước khi thả cá rô phi giống, bà Kiểu thực hiện tát cạn, nạo vét bùn đáy chỉ giữ lại lớp bùn non từ 5-10 cm, dùng vôi bột khử trùng kết hợp phơi khô đáy ao từ 7-10 ngày mới đưa nước vào. Ngoài ra, ao nuôi còn được kiểm tra một số yếu tố môi trường như ô xy, độ pH để đưa ra các giải pháp sau khi nhập cá giống. Để bảo đảm môi trường ao nuôi luôn sạch và ổn định, hạn chế bệnh dịch, gia đình sử dụng chế phẩm sinh học và một số hóa chất diệt khuẩn, sử dụng thiết bị test đo môi trường hằng tuần, từ đó có sự điều chỉnh, duy trì ổn định môi trường ao nuôi trong phạm vi cho phép.
Với phương pháp nuôi khoa học, sau 6-7 tháng, cá rô phi do gia đình bà Kiểu thả nuôi đạt trọng lượng từ 0,8-0,9 kg/con. Trên diện tích gần 1 ha ao nuôi, gia đình thu về 23 - 25 tấn; toàn bộ sản phẩm được Hợp tác xã Sản xuất và thương mại thủy sản Xuyên Việt thu mua, sau khi trừ chi phí, tổng thu nhập của gia đình tăng khoảng 10% so với nuôi các giống cá khác.
Từ năm 2024, được sự hỗ trợ của Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản, gia đình ông Nguyễn Văn Chính ở xã Nhã Nam tham gia đề án tự động hóa nuôi thủy sản thâm canh. Ông Chính chuyển đổi khoảng 1 ha sang nuôi chuyên canh cá rô phi phục vụ chế biến xuất khẩu. Để đáp ứng các tiêu chuẩn của đơn vị thu mua, gia đình triển khai tự động hóa quá trình sản xuất, theo dõi các chỉ số môi trường ao nuôi như hệ thống camera giám sát và chủ động điều khiển hoạt động của máy quạt nước, máy phun cám viên, thiết bị đo nồng độ oxy trong nước…
Ông Chính cho biết: “Để thủy sản đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ từ con giống, nguồn nước, thức ăn đến việc áp dụng các tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP. Nhờ áp dụng công nghệ tự động hóa kết hợp kiểm soát chặt chẽ chất lượng môi trường ao nuôi, năng suất, sản lượng cá thu được tăng gấp 1,5-2 lần so với trước đây. Cụ thể, mỗi vụ nuôi kéo dài 6-8 tháng, gia đình có thể thu hoạch 60 - 62 tấn cá, lợi nhuận đạt 120 - 130 triệu đồng”.
Chú trọng quy trình chăm sóc
Toàn tỉnh hiện có khoảng 16.200 ha nuôi, trong đó 9.520 ha nuôi chuyên canh, gần 100 vùng nuôi tập trung quy mô diện tích từ 10 ha/vùng trở lên; sản lượng thủy sản hằng năm ước đạt 99.700 tấn.
Để hỗ trợ đầu ra cho nông dân, Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh tăng cường liên kết với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm với sản lượng đạt khoảng 1.000 - 2.000 tấn/năm, chiếm 1 - 2% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh.
Ông Đỗ Huy Khôi, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh cho biết, nhiều hộ dân trên địa bàn đã chủ động liên kết với doanh nghiệp áp dụng quy trình nuôi mới, tập trung vào sản phẩm chủ lực là cá rô phi fillet đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Nhằm hỗ trợ đầu ra cho bà con, Chi cục làm tốt vai trò cầu nối, thúc đẩy ký kết hợp đồng bao tiêu với sản lượng khoảng 1.000 - 2.000 tấn/năm. Tuy nhiên, chuỗi liên kết vẫn gặp rào cản do giá bán bấp bênh và một số lô hàng chưa đạt chuẩn xuất khẩu do người nuôi chưa tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật về môi trường ao, thức ăn và vắc-xin phòng bệnh.
Để xuất khẩu sang các thị trường khắt khe như Mỹ, EU, Nhật Bản hay Brazil, người nuôi thủy sản phải tuân thủ nghiêm ngặt 4 nguyên tắc cốt lõi: An toàn, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Cụ thể, vùng nuôi phải nằm tách biệt khỏi các nguồn xả thải, có hệ thống cấp, thoát nước độc lập; môi trường ao được kiểm soát chặt chẽ các chỉ số pH, độ kiềm, kim loại nặng và độc tố (NH3, NO2). Cùng với việc chọn con giống khỏe mạnh, rõ nguồn gốc và dùng thức ăn nằm trong danh mục cho phép, hộ nuôi bắt buộc phải ghi chép nhật ký từ khâu chăm sóc đến thu hoạch. Trước thời điểm thu hoạch cần ngừng sử dụng thuốc, kiểm tra dư lượng, vi sinh, kích cỡ và cảm quan sản phẩm.
Chuẩn hóa theo các quy định trên, Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh tập trung đẩy mạnh hỗ trợ người nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh kỹ thuật, con giống, quản lý chặt môi trường phòng ngừa dịch bệnh và kết nối với các doanh nghiệp tiêu thụ. Hiện tại, đã có một số doanh nghiệp chế biến trong và ngoài tỉnh thực hiện mô hình liên kết theo hình thức hỗ trợ cung cấp con giống đạt chuẩn, hướng dẫn người nuôi sử dụng thức ăn chuyên biệt được sản xuất từ nguồn nguyên liệu bền vững, đặc biệt là đậu nành và khô đậu nành…
Bên cạnh đó, doanh nghiệp và hộ nuôi cùng thống nhất quy trình chăm sóc, tiêu chí chất lượng nước, chương trình dinh dưỡng, thức ăn, nhật ký chăm sóc, vận hành hệ thống quạt và oxy. Khi thu hoạch, doanh nghiệp cam kết thu mua sản phẩm với mức giá đã thỏa thuận từ đầu, một sự bảo đảm quan trọng giúp người nuôi yên tâm đầu tư mở rộng sản xuất.












